Chương 1: Tông quan, lý luận chung, những van dé cơ bản của hoạt động bao lãnh. e Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng TMCP hang hải Việt Nam chi nhánh Đống Da. © Chương 3: Một sô giải pháp, kiến nghị và định hướng kinh doanh dé nâng cao chất lượng họat động bảo lãnh tại ngân hàng TMCP hàng hải Việt Nam chỉ nhánh Đồng Đa. Sinh viên: Nguyễn Hoàng 2 Chuyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: ThS.
Tran Đức Thang CHUONG 1: TONG QUAN VE CHAT LUONG HOAT DONG BAO LANH TRONG NGAN HANG THUONG MAI 1. Những van đề cơ ban về hoạt động bảo lãnh 1. Khái niệm hoạt động bảo lãnh Theo Thông tư số 28/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động bảo lãnh ngân hàng được định nghĩa như sau: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận. Như vậy có 3 bên tham gia vào họat động bảo lãnh, đó là: e Bên bảo lãnh: là tô chức tin dung, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh.
e Bên nhận bảo lãnh là: tổ chức, cá nhân là người cư trú hoặc không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do tô chức tin dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành. e_ Bên được bảo lãnh là: tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được tô chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh. Nói tóm lại, có thé hiểu hoạt động bảo lãnh là việc người bảo lãnh (ở đây là ngân hàng) cam kết bồi hoàn một khoản tiền cho người thụ hưởng bảo lãnh trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh.Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh Là một loại hình bảo lãnh cơ bản, bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm sau: e Bảo lãnh ngân hàng là hình thức giao dịch thương mại mang tính đặc thù. Ngân hàng thực hiện hoạt động bảo lãnh với mục đích lợi nhuận, đó là thương mại.
Sinh viên: Nguyễn Hoàng 3 Chuyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: ThS. Tran Đức Thang Ngân hang cần có những nhân viên có đủ chuyên môn, nghiệp vụ về bảo lãnh dé thực hiện nghiệp vụ này, đó là tính đặc thù. e_ Chủ thé hoạt động cấp bảo lãnh chỉ có thé là các tổ chức tin dụng, các tổ chức tín dụng này không giống như trong bảo lãnh dân sự, họ tham gia bảo lãnh với mục đích lợi nhuận. e Giao dịch trong bảo lãnh ngân hang là giao dịch kép.
Ngân hàng phải tạo lập 2 hợp đồng là hợp đồng bảo lãnh (giữa ngân hàng và bên nhận bảo lãnh) và hợp đồng cấp bảo lãnh (giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh). Đây là 2 hợp đồng độc lập với nhau và để phát hành bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng thì ngân hàng không thê ký kết hợp đồng cấp bảo lãnh trước rồi mới đến hợp đồng bảo lãnh e Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa trên các chứng từ, các mối quan hệ của các bên liên quan đều phải được thé hiện bằng văn ban, các văn bản này chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch là cơ sở pháp lý ràng buộc các bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình với bên kia. e_ Bảo lãnh ngân hang là bảo lãnh vô điều kiện. Khi người được bảo lãnh không thực hiện được hay thực hiện không đúng thì nếu bên nhận bảo lãnh xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp thì ngân hàng vẫn sẽ phải thực hiện nghĩa vụ của mình không phụ thuộc vào bên được bảo lãnh có khả năng tự thực hiện nghĩa vụ của mình hay không.
e Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng. Hoạt động ngoại bang của ngân hang là hoạt động không thuộc bảng cân đối kế toán của ngân hàng, trong các hoạt động đó ngân hàng cung cấp các dịch vụ dé thu phí. Trong giai đoạn hiện nay khi mà các ngân hàng tăng cường phát triển các hoạt động ngoại bảng để hạn chế sự phụ thuộc quá lớn vào hoạt động cho vay và đầu tư thì hoạt động bảo lãnh là một trong những hoạt động phát triển nhất giúp tăng thu nhập và đa dạng hóa hoạt động của ngân hàng, góp phần hạn chế rủi ro. Sinh viên: Nguyễn Hoàng 4 Chuyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: ThS.
Tran Đức Thang 1. Phân loại hoạt động bảo lãnh 1. Phân loại theo mục đích bảo lãnh a. Bảo lãnh tham gia dự thâu e Là cam kết của ngân hang với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt cho bên dự thầu, nêu bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp đồng dự thâu.
Trong hoạt động kinh tế, rất nhiều các hoạt động được thực hiện thông qua đấu thầu. Trong quá trình làm việc thì chủ thầu thường yêu cầu nhà thầu ký quỹ dự thầu. Tuy nhiên do ký quỹ gây ra nhiều phiền phức nên nhiều chủ thầu yêu cầu thay thế tiền ký quỹ bằng bảo lãnh của ngân hàng. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng e Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả ton thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết gây tôn thất cho bên thứ ba.
Các hợp đồng được bảo lãnh thực hiện như hợp đồng cung cấp hàng hóa, xây dựng, thiết kế. Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không đúng hạn, không đúng chat lượng cam kết. đều có thé gây tổn thất cho bên thứ ba. Bảo lãnh của ngân hàng một mặt bù đắp tôn thất cho bên thứ ba, một mặt thúc đầy khách hàng nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiễn ứng trước e Nhiều người bán hàng yêu cầu người mua hàng phải đặt trước một số tiền nhất định trong giá trị hợp đồng mua hàng. Số tiền đặt cọc vừa giúp bên bán hàng có một phần vốn đề tiếp tục sản xuát kinh doanh vừa có tác dụng ràng buộc người mua phải mua hàng. Tuy nhiên trong trường hợp người ban hang không cung cấp hàng hóa đồng thời không trả lại tiền đặt cọc, bên mua hàng sẽ yêu cầu bên bán hàng phải có bảo lãnh của ngân hàng về việc sẽ trả tiền ứng trước. Từ đó rút ra bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoan trả tiên ứng trước cho bên mua hàng nêu bên bán không trả lại tiên đặt cọc.
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn) Sinh viên: Nguyễn Hoàng 5 Chuyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: ThS. Tran Đức Thang Trong hoạt động kinh tế, nhiều tổ chức, nhà nước vay vốn cần phải có đảm bảo bằng hàng hóa, chứng khoán, bất động sản. Có trường hợp nhà nước, doanh nghiệp, tô chức đi vay vốn nhưng không đủ uy tín nên sẽ gặp khó khăn trong việc vay. Do đó bảo lãnh hoàn trả vay vốn ra đời.
Đây là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu người đi vay không trả được. Bao lãnh dam bao thanh toán Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng, nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ. Bao lãnh bảo hành Bảo lãnh bảo hành dùng cho mục đích bảo lãnh chất lượng sản phẩm, công trình trong suốt thời gian bảo hành. Nếu bên được bảo lãnh không thực hiện được trách nhiệm bảo hành sản phâm không nộp tiền phạt hoặc không nộp đủ số tiền phạt ghi trong hợp đồng thì ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
Giá trị của hợp đồng bảo lãnh thường từ 2-5% hợp đồng bảo lãnh. Thời hạn của hợp đồng bảo lãnh là từ khi bắt đầu ráp, sử dụng thiết bị cho đến hết thời hạn bảo hành. Thư tín dụng dự phòng Thư tín dụng là loại tín dụng chứng từ hoặc một thỏa thuận tương tự, trong đó ngân hàng cam kết với người thụ hưởng: Trả một khoản tiền mà người yêu cầu mở tín dụng thư đã thanh toán hoặc ứng trước. Thanh toán một khoản nợ của người mở.
Bồi thường thiệt hại do người mở không thực hiện được nghĩa vụ của mình. Bảo lãnh vận đơn Bảo lãnh vận đơn có mục đích bù đắp thiệt hại cho những người có quyền lợi chính đáng trước sự lợi dụng vận đơn. Người có quyền lợi chính đáng có thé là Sinh viên: Nguyễn Hoàng 6 Chuyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: ThS. Tran Đức Thang người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu.
Giá trị của hop đồng bảo lãnh trong khoảng từ 100-150% giá trị hàng hóa. Bảo lãnh thué quan Trong hoạt động xuất nhập khẩu, người nhập khẩu phải nộp thuế trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên nếu không thể nộp thuế đúng thời hạn thì người nhập khẩu phải nhờ ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho việc nộp thuế này. Người được bảo lãnh là người nhập khẩu, còn bên nhận bảo lãnh là Hải quan.Bảo lãnh thương phiếu Đề đề phòng trường hợp đến ngày trả tiền mà người thụ hưởng không nhận được tiền thì ngân hàng sẽ thực hiện bảo lãnh thương phiếu.
Ngân hàng sẽ cam kết trả tiền cho người thụ hưởng khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ trả tiền. Thương phiếu có 2 loại là hối phiếu và kỳ phiếu nên bảo lãnh thương phiếu cũng có 2 loại là: Bảo lãnh hối phiếu: Ngân hàng phát hành bảo lãnh hối phiếu nhằm đảm bảo việc thanh toán của người có nghĩa vụ trả tiền ghi trên hối phiếu. Bảo lãnh kỳ phiếu: Ngân hàng bảo lãnh cho người phát hành kỳ phiếu, tức là người nhập khâu. Phân loại theo phương thức phát hành a.
Bảo lãnh trực tiếp Là hình thức bảo lãnh mà ngân hang bảo lãnh chịu trách nhiệm bảo lãnh trực tiếp cho bên được bảo lãnh mà không qua ngân hàng trung gian phục vụ người thụ hưởng. Việc thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng được thực hiện trực tiếp mà không thông qua ngân hàng trung gian nào. Với hình thức bảo lãnh này thì người thụ hưởng sẽ không phải mat thêm bat kỳ khoản hoa hồng nào cho các ngân hàng khác. Tuy nhiên khó khăn sẽ nảy sinh khi khoảng cách xa xôi, việc thanh toán gặp nhiều khó khăn, thủ tục phức tạp.