Những Chuyển Biến Kinh Tế - Xã Hội Khu Vực Ven Biển Đông Nam Bộ Giai Đoạn 2007 - 2020

Nghiên cứu chuyển biến kinh tế xã hội khu vực ven biển Đông Nam Bộ giai đoạn 2007-2020, luận án tiến sĩ lịch sử cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

250
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của luận án

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung của chuyển biến kinh tế - xã hội vùng ven biển

2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chuyển biến kinh tế - xã hội vùng ven biển

2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.3.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.3.3. Nhận xét kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án

2.3.4. Nhận xét kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2.3.5. Một số khoảng trống trong các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.3.6. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

2.4. Tiểu kết chương 1

3. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ

3.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Khí hậu, thủy văn

3.1.3. Tài nguyên du lịch

3.2. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội khu vực ven biển ĐNB trước năm 2007

3.2.1. Tình hình kinh tế

3.2.2. Tình hình xã hội

3.3. Tiểu kết chương 2

4. CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ (2007 - 2012)

4.1. Bối cảnh, chủ trương phát triển

4.1.1. Bối cảnh lịch sử

4.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương khu vực ven biển

4.2. Chuyển biến kinh tế

4.2.1. Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

4.2.2. Chuyển biến các ngành kinh tế

4.3. Chuyển biến xã hội

4.3.1. Đời sống vật chất

4.3.2. Đời sống văn hóa - tinh thần

4.4. Tiểu kết chương 3

5. CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ (2013 - 2020)

5.1. Bối cảnh, chủ trương phát triển

5.1.1. Bối cảnh lịch sử

5.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương khu vực ven biển

5.2. Chuyển biến kinh tế

5.2.1. Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

5.2.2. Chuyển biến các ngành kinh tế

5.3. Chuyển biến xã hội

5.3.1. Đời sống vật chất

5.3.2. Đời sống văn hóa - tinh thần

5.4. Tiểu kết chương 4

6. NHẬN XÉT, ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

6.1. Một số nhận xét

6.2. Những vấn đề đặt ra

6.3. Bài học kinh nghiệm

6.3.1. Bài học về đánh giá tiềm năng các nguồn lực, phát huy lợi thế

6.3.2. Bài học về thiết lập kế hoạch phát triển kinh tế biển trong chiến lược

6.3.3. Bài học về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực

6.3.4. Bài học về sự tiên phong trong thực hiện những chính sách

6.3.5. Bài học về giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế

6.4. Đặc điểm quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội khu vực ven biển ĐNB

6.5. Khu vực ven biển ĐNB phát huy những tiềm năng, giá trị khác biệt

6.6. Chính sách kinh tế biển đồng bộ, thống nhất và ổn định

6.7. Lực lượng lao động dồi dào, phân bố không đồng đều

6.8. Tốc độ đô thị hóa nhanh tác động mạnh mẽ đến đời sống của cộng đồng

6.9. Khu vực ven biển ĐNB luôn quan tâm xây dựng và thực hiện tốt

6.10. Tiểu kết chương 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chuyển Biến Kinh Tế Xã Hội Ven Biển Đông Nam Bộ 2007 2020

Chuyển biến kinh tế - xã hội ven biển Đông Nam Bộ giai đoạn 2007-2020 đã diễn ra mạnh mẽ, phản ánh sự phát triển đa dạng của các ngành kinh tế. Khu vực này không chỉ có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên mà còn là nơi tập trung dân cư đông đúc, tạo ra nhiều cơ hội phát triển. Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương, sự chuyển biến này đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

1.1. Đặc điểm địa lý và kinh tế khu vực ven biển

Khu vực ven biển Đông Nam Bộ có vị trí địa lý chiến lược, với bờ biển dài và nhiều cảng biển quan trọng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch và khai thác thủy sản.

1.2. Tình hình dân số và lao động ven biển

Dân số khu vực ven biển Đông Nam Bộ tăng nhanh, với tỷ lệ lao động trong các ngành kinh tế biển ngày càng cao. Điều này cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và công nghiệp.

II. Những Thách Thức Trong Chuyển Biến Kinh Tế Xã Hội Ven Biển

Mặc dù có nhiều thành tựu, khu vực ven biển Đông Nam Bộ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Việc phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, và nhiều vấn đề xã hội vẫn chưa được giải quyết triệt để. Theo nghiên cứu, sự phát triển không đồng đều giữa các ngành và các địa phương là một trong những thách thức lớn nhất.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của người dân ven biển. Nhiều khu vực phải đối mặt với tình trạng xói mòn bờ biển và ngập mặn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

2.2. Vấn đề ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất và du lịch gia tăng đã gây ra nhiều hệ lụy cho sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái biển. Cần có các biện pháp quản lý hiệu quả để giảm thiểu tác động này.

III. Phương Pháp Phát Triển Kinh Tế Bền Vững Ven Biển

Để phát triển bền vững, khu vực ven biển Đông Nam Bộ cần áp dụng các phương pháp quản lý tài nguyên hiệu quả. Việc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là rất cần thiết. Các chính sách phát triển cần hướng tới việc khai thác bền vững tài nguyên biển và cải thiện đời sống người dân.

3.1. Chính sách phát triển kinh tế biển

Chính sách phát triển kinh tế biển cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, thủy sản và công nghiệp chế biến. Cần có sự hỗ trợ từ chính phủ để thu hút đầu tư.

3.2. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ mới sẽ giúp khu vực ven biển nâng cao năng lực quản lý và khai thác tài nguyên biển một cách hiệu quả hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chuyển biến kinh tế - xã hội ven biển Đông Nam Bộ đã mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng. Tuy nhiên, cần có các biện pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Việc áp dụng các mô hình phát triển bền vững sẽ là chìa khóa cho tương lai.

4.1. Mô hình phát triển kinh tế biển

Mô hình phát triển kinh tế biển cần được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Các dự án cần được đánh giá tác động môi trường trước khi triển khai.

4.2. Kết quả từ các dự án thí điểm

Nhiều dự án thí điểm đã cho thấy hiệu quả trong việc cải thiện đời sống người dân và bảo vệ môi trường. Cần nhân rộng các mô hình này để đạt được kết quả tốt hơn.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Kinh Tế Ven Biển

Kinh tế ven biển Đông Nam Bộ có tiềm năng phát triển lớn, nhưng cần phải có các chính sách đồng bộ để khai thác hiệu quả. Tương lai của khu vực này phụ thuộc vào khả năng ứng phó với các thách thức và phát triển bền vững. Việc đầu tư vào hạ tầng và nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển trong những năm tới.

5.1. Tầm nhìn phát triển bền vững

Tầm nhìn phát triển bền vững cần được xây dựng dựa trên sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan. Điều này sẽ giúp tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ cho các chính sách phát triển.

5.2. Định hướng chính sách trong tương lai

Các chính sách trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và địa phương để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

27/07/2025
Những chuyển biến kinh tế xã hội khu vực ven biển đông nam bộ giai đoạn 2007 2020 luận án tiến sỹ lịch sử

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm Khu vực Khái niệm “khu vực” (tiếng Anh là area/region) có nội hàm ngữ nghĩa khá mơ hồ và hiện nay vẫn còn tranh cãi giữa các nhà khoa học, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Theo Yumito Sakurai “khu vực là một không gian có đặc trưng riêng” [142]. Tính đặc trưng khu vực là kết quả của sự tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, trong đó môi trường tự nhiên chính là yếu tố quan trọng nhất.

Theo cách hiểu này, quy mô của một khu vực được xác định hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi nghiên cứu của nhà khu vực học. Theo nhà khu vực học, nghiên cứu tính đặc thù của cảnh quan ven biển ĐNB, ven biển ĐNB là một khu vực; nếu nhà khu vực học tìm hiểu tính đặc thù của khu vực TP. HCM là một khu vực. Riggs, khu vực là “một đơn vị lãnh thổ ổn định trong đó các dân tộc đã sống qua nhiều thế hệ, sản xuất và tiêu dùng hàng hóa và thông tin mà họ cần một cách tương đối biệt lập với thế giới bên ngoài, theo các quy tắc và thói quen văn hóa riêng của họ” [164].

Cách hiểu khu vực theo định nghĩa này có sự gần gũi với khái niệm quốc gia dân tộc. Ở Việt Nam, khái niệm khu vực được diễn giải trong Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ biên soạn “là phần đất đai, trời biển có giới hạn rõ ràng, được vạch ra dựa trên những tính chất, đặc điểm chung nào đó” [147]. Việc định nghĩa khu vực theo vị trí địa lý được hiểu là bất biến, vì vị trí địa lý của bất kỳ một quốc gia, vùng lãnh thổ, vùng hoặc tiểu vùng nào được coi là tiêu chí tồn tại tự nhiên, không thay đổi nhiều qua thời gian. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế, nội hàm khu vực được học giả Lương Văn Kế nhận định “khái niệm khu vực mang tính đa nghĩa và ẩn dụ cao.

Vì vậy cần phải coi tiêu chí đồng nhất về chức năng (xã hội) của không gian là quan trọng nhất để xác định khu vực” [79, tr. Như vậy, dù chưa thể đưa ra một kết luận chính xác và duy nhất về định nghĩa khu vực, nhưng theo quan điểm nhận thức luận, chỉ cần hiểu và định nghĩa khu vực là một khái niệm mở và động. Bên cạnh các tiêu chí cơ bản 13 truyền thống về vị trí địa lý và đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. còn phải tính đến các tiêu chí xuất phát từ yêu cầu, xu hướng phát triển của thực tiễn qua từng thời kỳ.

Trong khuôn khổ luận án, khu vực được hiểu là một vùng lãnh thổ được xác định bởi một số các đặc điểm chung hoặc hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn như khí hậu, địa hình, kinh tế, văn hóa. Khu vực ven biển Các nhà khoa học Nga cho rằng “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại” [2]. Định nghĩa này phù hợp với quan điểm nghiên cứu địa lý tự nhiên vì xét trên thực tế nội hàm của nó vẫn chưa bao quát được những đối tượng về dân cư, xã hội, đặc biệt là trong việc nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế biển. Tháng 12 năm 1992, tại Hội thảo khoa học quốc gia Nghiên cứu vùng ven biển Việt Nam, Giáo sư Joe Baker thuộc Viện Khoa học biển Australia đã đưa ra khái niệm về vùng ven biển “Vùng ven biển là dải đất rộng khoảng 3 km dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới ảnh hưởng của thủy triều và trong đất liền” [183].

Khái niệm này đề cập đến tương tác giữa biển và lục địa thông qua tác động của thủy triều nhưng vẫn còn hạn chế khi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội trong quá trình khai thác lợi thế của biển. Đến năm 2000, quan điểm của Viện Tái thiết Nông thôn Quốc tế Philipines về vùng ven biển vô tình trùng lắp với ý tưởng của giáo sư Joe Baker khi cho rằng, vùng ven biển là vùng đất chịu ảnh hưởng của biển, phạm vi tùy ý phụ thuộc vào mực thủy triều [149]. Ở Việt Nam, việc xác định vùng ven biển cũng có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Trong chương trình điều tra biển Việt Nam 1997 - 2000, khái niệm vùng ven biển được diễn giải như sau: “Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3.200 km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước” [59].

Theo Nghị định số 25/2009/NĐ/CP, ngày 06/3/2009 của Chính phủ về Quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, “Vùng ven biển là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành chính để quản lý” [20]. Hiện nay, do sự phân chia lại địa giới các tỉnh vì vậy vùng ven biển nước ta bao gồm tất cả 14 các quận, huyện, thị xã, thành phố có đường biên giới biển thuộc 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [114]. Từ phân tích các khái niệm có liên quan, dưới góc độ tiếp cận của chuyên ngành và phạm vi nghiên cứu, vùng ven biển hay khu vực ven biển trong luận án này được hiểu là toàn bộ địa bàn các xã (phường, thị trấn) ven biển, các huyện (quận, thành phố trực thuộc tỉnh) ven biển có địa giới hành chính tiếp giáp với đường bờ biển và có các hoạt động kinh tế - xã hội gắn với phạm vi địa bàn lãnh thổ này. Khu vực ven biển Đông Nam Bộ ĐNB bao gồm TP.

HCM và các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Vùng ĐNB có diện tích vào loại nhỏ so với các vùng khác (23.5 nghìn km2), dân số và lao động vào loại trung bình, nhưng lại dẫn đầu cả nước về tổng sản phẩm trong nước, giá trị sản lượng công nghiệp và giá trị hàng xuất khẩu. Đây là khu vực kinh tế phát triển nhất Việt Nam, đóng góp hơn 2/3 thu ngân sách hàng năm, có tỷ lệ đô thị hóa 50% [108]. Đa số các tỉnh miền ĐNB nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Hiện nay việc phân định ranh giới khu vực ven biển ĐNB trong từng lĩnh vực quản lý khác nhau có cách tiếp cận, tiêu chí khác nhau. Với cách tiếp cận tổ chức lãnh thổ quân sự, Quân khu 7 cho rằng “Bờ biển ở miền Đông Nam Bộ dài, với nhiều cửa sông lớn như Soài rạp, Đồng Tranh, Cần Giờ, Lòng Tàu, Cái Mép, Phan Rí; trong đó có cửa biển chiến lược Cần Giờ nối Sài Gòn với biển Đông. Ngoài khơi có hai đảo lớn là Côn Lôn và Phú Quý” [14, tr. Như vậy, từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ranh giới khu vực ven biển ĐNB theo quan điểm của Quân khu 7 được xác định từ vùng biển Bình Thuận trải dài đến TP.

Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 161/NQ-CP ngày 31/12/2018 của Chính phủ về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất quốc phòng kỳ cuối (2016 - 2020). Theo đó, địa bàn Quân khu 7 có 09 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: TP. HCM, các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An, Tây Ninh với tổng diện tích khoảng 45.689,1 km2, dân số là 22.066 người; có vùng biển trải dài thuộc 03 tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. HCM với chiều dài bờ biển là 322 km và vùng biển rộng 112.

15 Dưới góc độ tiếp cận tổ chức lãnh thổ theo không gian kinh tế - xã hội, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về khu vực ven biển ĐNB thể hiện trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là: “Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ, bao gồm 8 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc 2 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. HCM có chiều dài bờ biển 127 km. Với định hướng phát triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm kinh tế hướng ra biển. Hình thành các tuyến hành lang kinh tế, các khu công nghiệp, trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang dọc quốc lộ 51” [55, tr.

Hướng tiếp cận này cho thấy, khu vực ven biển ĐNB được nhìn nhận là một tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội. Đó là sự sắp xếp, phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị. của khu vực, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững. Trong khuôn khổ luận án, để thuận lợi trong việc thu thập số liệu, tài liệu và đưa ra những đánh giá chính xác, khoa học về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của khu vực, NCS xác định Khu vực ven biển ĐNB bao gồm các xã (phường, thị trấn), huyện (quận, thành phố trực thuộc tỉnh) thuộc TP.

HCM và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có địa giới hành chính tiếp giáp với đường bờ biển thuộc vùng biển ĐNB. Kinh tế biển Theo Vụ Nghề cá và Đại dương Canada (DFO), kinh tế biển là những ngành được thành lập trong khu vực hàng hải và các cộng đồng ven biển liền kề với các khu vực này, hay những ngành mà thu nhập của chúng phụ thuộc vào các khu vực này [168]. Theo chuyên gia về kinh tế biển của Trung Quốc, Dương Kim Thâm nhận định, kinh tế biển bao gồm: hải sản, khai thác dầu và khí tự nhiên ngoài khơi, công nghiệp muối, đóng tàu biển, dịch vụ biển, du lịch biển, viễn thông và vận tải biển, giáo dục và khoa học biển, bảo vệ môi trường [161]. Trong khi đó, nhà khoa học Hoa Kỳ Charles S.

Colgan đưa ra khái niệm kinh tế biển dựa trên cơ sở các hoạt động kinh tế gắn liền với biển với nội hàm hẹp hơn: Kinh tế biển là những hoạt động có nguồn gốc từ biển. Cụ thể bao gồm các hoạt động liên quan đến biển như khai thác biển, hải sản và ngành vận tải biển [157].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ