CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận Một số khái niệm a) Biến đổi khí hậu (Climate Change) Theo IPCC, biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [IPCC, 2007]. b) Khí nhà kính (Green House Gases) Các chất khí trong khí quyển hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ hồng ngoại phát ra từ mặt đất.
Các chất khí này vừa do quá trình tự nhiên lẫn con người sinh ra. Khí nhà kính (KNK) chủ yếu là hơi nước, các khí nhà kính chính khác gồm điôxít cácbon, oxit nitơ, mêtan và CFC. (Biến đổi khí hậu, 2008) Khí nhà kính (bổ sung):Các KNK làm giảm lượng bức xạ của trái đất thoát ra vũ trụ, do đó làm nóng tầng bên dưới khí quyển và bề mặt trái đất (Biến đổi khí hậu, 2008) c) Tăng trưởng xanh (Green Growth) Hàn Quốc, quốc gia đi đầu trong việc thực hiện TTX đã đưa ra định nghĩa: "TTX là sự tăng trưởng đạt được bằng cách tiết kiệm và sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng hiệu quả để giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiệt hại tới môi trường, tạo ra các động lực tăng trưởng mới thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh, tạo các cơ hội việc làm mới và đạt được sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”. Theo định nghĩa của Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) "Tăng trưởng xanh" là định hướng mới thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững, nhằm đảm bảo nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống của chúng ta phụ thuộc vào, cho thế hệ này cũng như cho những thế hệ mai sau.
Tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên Hiệp Quốc (GEI) quan niệm TTX hay xây dựng nền kinh tế xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính (KNK), khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), TTX là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta. Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới. Tại Việt Nam, định nghĩa về TTX được nêu trong Kế hoạch hành động quốc gia TTX: "TTX là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững".
d) Kinh tế xanh (Green Economy) Đi liền với “Tăng trưởng xanh” là "kinh tế xanh". Đây là mục tiêu hướng đến của nền kinh tế nhằm đảm bảo hạnh phúc, công bằng xã hội và giảm thiểu đáng kể những nguy cơ kiệt quệ về môi sinh. Chuyển dịch sang nền kinh tế xanh sẽ làm chậm lại sự gia tăng của hàm lượng các-bon và ngăn chặn biến đổi khí hậu. Sẽ có lợi cho sức khỏe con người, đảm bảo tính chịu đựng của hành tinh và sự sống còn của nhân loại.
Thị trường toàn cầu hóa sẽ đi theo những chuỗi giá trị cung cầu xanh, với các dòng chảy mậu dịch và đầu tư được quy định nghiêm ngặt theo những nguyên lý bền vững. Có thể nói "Tăng trưởng xanh" và "kinh tế xanh" có quan hệ rất mật thiết với nhau. Để có được tăng trưởng xanh thì không thể không có kinh tế xanh và ngược lại. e) Truyền thông (Communication) Là việc truyền đạt thông tin bao gồm ý tưởng, tình cảm, kiến thức và kỹ năng giữa người với người.
Là một quá trình giao tiếp để chia sẻ sự hiểu biết, kinh nghiệm, tình cảm với đầy đủ các yếu tố: người gửi, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông và sự phản hồi. Trong truyền thông có sự trao đổi thông tin hai chiều, có sự chuyển đổi vai trò: Người gửi, đồng thời cũng là người nhận. Sự phản hồi trong truyền thông giúp trao đổi được chính xác hơn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ, chia sẻ kinh nghiệm giữa hai người hoặc một nhóm người, nhằm đạt được sự hiểu biết chung.
Truyền thông là quá trình liên kết các bộ phận của thế giới sống với nhau”. (Nguồn: Planning of Public Awareness and Participation of ICM, PEMSEA, 2001) f) Truyền thông chuyển đổi hành vi (Communication to raise awareness) Là quá trình trao đổi thông tin, hỗ trợ đối tượng đích chuyển đổi hành vi có hại thành hành vi có lợi về sức khỏe, xã hội hoặc một vấn đề cụ thể mà đối tượng đang liên quan. i) Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Small and Medium enterprise) Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1 Phân loại DNNVV Nguồn: Điều 3. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa (NĐ 56/2009/NĐ-CP - 30/06/2009 về việc trợ giúp phát triển DNNVV) Tính logic và liên tục của quá trính truyền thông Mục đích của truyền thông là truyền tải thông tin có chủ đích đến đối tượng cần truyền thông thông qua thông điệp.
Tuy nhiên, không phải dễ dàng đạt được mục đích trong thời gian ngắn và tức thì. Truyền thông nhằm nhiều mục đích trong đó có mục đích nâng cao nhận thức để được hành vi thay đổi như mong muốn. Bởi vậy, có thể nói đây là vấn đề phải được thực hiện lâu dài với phương chậm “mưa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dầm thấm lâu”, có khi phải thực hiện liên tục, nhắc đi nhắc lại và xâu chuỗi logic vấn đề nhằm đạt mục đích.2 Tổng quan tài liệu 1.1 Nghiên cứu và triển khai vấn đề nâng cao nhận thức về Tăng trưởng xanh trên thế giới Thực tiễn tại các nước cũng cho thấy rằng việc thúc đẩy TTX hay quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh tạo ra tiềm năng to lớn để đạt được phát triển bền vững và giảm đói nghèo với tốc độ chưa từng thấy đối với tất cả các quốc gia. Riêng đối với các nước đang phát triển, tăng trưởng xanh còn tạo đà cho một bước nhảy vọt để phát triển kinh tế mà không theo con đường phát triển kinh tế “ô nhiễm trước, xử lý sau”, “kinh tế nâu”.
Hội nghị của LHQ về PTBV, Hội nghị Rio+20 (6.2012) đã đặt được nền móng cho kinh tế xanh. Toàn bộ 30 tổ chức quốc tế chuyên ngành trong hệ thống Liên Hiệp Quốc, do UNEP phối hợp cùng với các quốc gia đi đầu trong làn sóng xanh toàn cầu, như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc, các nước EU, đặc biệt là Đức và các nước Bắc Âu, để cùng nhau đưa ra thông điệp chung "cộng đồng thế giới cần chuyển dịch nhanh sang nền kinh tế xanh toàn cầu để cứu trái đất và nhân loại”. Các báo cáo của IPCC là kênh thông tin truyền thông, nâng cao nhận thức chuẩn mực nhất, là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, 1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP1 đến COP19), v. Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể.
Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001). Đây là bằng chứng rõ ràng nhất, đưa ra sự nhận thức đúng đắn về sự ấm lên toàn cầu và gia tăng khí nhà kính, trong đó con người, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đóng góp phần đáng kể nhất. Nếu không có kênh truyền thông công bố các nghiên cứu khoa học, bằng chứng khoa học rõ ràng thì vấn đề, thông điệp truyền thông với thông tin dày đặc về BĐKH và sự gia tăng khí nhà kính không thể đến được đối tượng cần truyền tải. Điều 6 của Công ước Khung về BĐKH của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) kêu gọi các quốc gia tăng cường công tác đào tạo, giáo dục và nâng cao nhận thức và tạo cơ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội cho cộng đồng tham gia và tiếp cận các thông tin về BĐKH.
Nghị định thư Kyoto cũng đề xuất các bên liên quan cùng nhau hợp tác cấp quốc gia và quốc tế nhằm xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục đào tạo bao gồm tăng cường năng lực quốc gia, đồng thời điều phối các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH. Theo kết quả điều tra của UNFCCC, tại các quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì các nhà quản lý và hoạch định chính sách đã công nhận giáo dục về BĐKH là ưu tiên hàng đầu và truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng đứng vị trí thứ hai.