Luận văn: Thực hiện Chương trình 135 tại huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

Luận văn thạc sĩ về thực hiện chương trình 135 tại huyện Bắc Mê, Hà Giang. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế xã hội.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Chương trình 135 Bắc Mê Hà Giang Tổng quan và Mục tiêu

Chương trình 135, một trong những chương trình mục tiêu quốc gia trọng điểm, được triển khai nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tại huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, một địa bàn với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và tỷ lệ hộ nghèo cao, chương trình này mang một ý nghĩa chiến lược. Được thành lập từ năm 1984, Bắc Mê là nơi sinh sống của 15 dân tộc thiểu số, với tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2013 là 31,4%. Bối cảnh này đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho việc thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu chính của Chương trình 135 tại Bắc Mê là cải thiện một cách toàn diện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Chương trình không chỉ tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mà còn hướng đến hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao dân trí và tăng cường năng lực quản lý cho cán bộ địa phương. Thông qua các hợp phần cụ thể, chương trình kỳ vọng sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, giúp huyện nghèo Bắc Mê từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của tỉnh Hà Giang và cả nước. Việc đánh giá đúng thực trạng triển khai là cơ sở để tìm ra các giải pháp đột phá, đảm bảo công cuộc giảm nghèo ở Hà Giang đạt được kết quả bền vững và thực chất.

1.1. Các giai đoạn triển khai chính của Chương trình 135

Chương trình 135 đã trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có sự điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn. Giai đoạn I (1998-2006) tập trung chủ yếu vào đầu tư cơ sở hạ tầng xã đặc biệt khó khăn. Giai đoạn II (2007-2012) mở rộng phạm vi, không chỉ đầu tư cho xã mà còn hướng đến các thôn, bản và bổ sung hợp phần hỗ trợ sản xuất, đào tạo nâng cao năng lực. Giai đoạn III (2013-2016), chương trình tiếp tục được điều chỉnh theo hướng đầu tư trực tiếp và hiệu quả hơn, tập trung vào tạo sinh kế bền vững cho người dân. Tại Bắc Mê, việc triển khai qua các giai đoạn đã cho thấy sự nhất quán trong chính sách, đồng thời cũng bộc lộ những bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác điều hành.

1.2. Mục tiêu cốt lõi Xóa đói giảm nghèo bền vững tại Bắc Mê

Mục tiêu xuyên suốt của Chương trình 135 tại Bắc Mê là xóa đói giảm nghèo bền vững. Điều này không chỉ có nghĩa là giảm tỷ lệ hộ nghèo theo các chỉ tiêu định lượng, mà còn là nâng cao chất lượng cuộc sống một cách toàn diện. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: đảm bảo người dân được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục; có đủ tư liệu sản xuất và kiến thức để phát triển kinh tế hộ gia đình; và cơ sở hạ tầng nông thôn thiết yếu được xây dựng đồng bộ. Hướng đến sự bền vững, chương trình còn chú trọng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và phát huy nội lực, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại, đảm bảo người dân là chủ thể thực sự của quá trình giảm nghèo.

II. Thách thức lớn khi thực hiện Chương trình 135 ở Bắc Mê

Mặc dù đạt được những thành tựu ban đầu, quá trình thực hiện Chương trình 135 tại huyện nghèo Bắc Mê vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Một trong những tồn tại lớn nhất là việc lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội với chương trình giảm nghèo còn hạn chế. Điều này dẫn đến sự phân tán nguồn lực và thiếu tính đồng bộ trong đầu tư. Nguồn kinh phí từ trung ương phân bổ còn thấp so với nhu cầu thực tế của địa phương, trong khi ngân sách tỉnh và huyện hỗ trợ không đáng kể, khiến nhiều dự án khó triển khai đúng tiến độ và quy mô. Một bộ phận người dân còn mang tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Điều này làm cho kết quả giảm nghèo thiếu bền vững, tỷ lệ tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới còn cao. Việc đánh giá và giám sát hiệu quả sử dụng vốn 135 cũng là một thách thức, đòi hỏi cơ chế minh bạch và sự tham gia tích cực hơn từ cộng đồng. Những rào cản này nếu không được giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số trong dài hạn.

2.1. Hạn chế trong phân bổ nguồn lực và quản lý vốn đầu tư

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo giảm nghèo huyện Bắc Mê, "kinh phí Trung ương bố trí cho chương trình giảm nghèo còn thấp so với nhu cầu của địa phương". Sự thiếu hụt vốn dẫn đến việc một số hạng mục đầu tư phải cắt giảm hoặc kéo dài thời gian thi công, ảnh hưởng đến chất lượng công trình và hiệu quả chung. Bên cạnh đó, công tác quản lý, giải ngân và giám sát hiệu quả sử dụng vốn 135 ở một số xã còn yếu kém, chưa phát huy tối đa vai trò của ban giám sát cộng đồng. Điều này tiềm ẩn nguy cơ lãng phí và không đạt được mục tiêu đầu tư đề ra.

2.2. Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế

Một rào cản tâm lý đáng kể là "một số bộ phận người dân còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước và cấp trên, không muốn thoát nghèo". Công tác tuyên truyền, vận động chưa thực sự đi vào chiều sâu, chưa làm thay đổi căn bản nhận thức của người dân. Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập kế hoạch, lựa chọn dự án ưu tiên, và giám sát thực hiện còn mang tính hình thức. Khi người dân không cảm thấy mình là chủ thể, họ sẽ thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát huy hiệu quả của các công trình, dự án sau đầu tư.

2.3. Năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở chưa đồng đều

Năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn bản là yếu tố quyết định thành công của chương trình. Tuy nhiên, tại Bắc Mê, trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý dự án, và khả năng vận động quần chúng của một bộ phận cán bộ còn hạn chế. Việc nâng cao năng lực cán bộ cơ sở thông qua các lớp tập huấn, đào tạo đã được triển khai nhưng chất lượng chưa đồng đều và chưa sát với yêu cầu thực tiễn. Điều này gây khó khăn trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các hợp phần của chương trình một cách khoa học và hiệu quả.

III. Tác động của Chương trình 135 đến đời sống người dân Bắc Mê

Không thể phủ nhận những tác động của chương trình 135 đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn và đời sống người dân Bắc Mê. Chương trình đã trở thành một nguồn lực quan trọng, góp phần trực tiếp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững tại địa phương. Từ năm 2011 đến 2013, tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm từ 38,4% xuống còn 31,4%. Sự thay đổi tích cực này đến từ việc đầu tư có trọng tâm vào ba lĩnh vực chính. Thứ nhất, hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là đường giao thông, thủy lợi, trường học và trạm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương và tiếp cận dịch vụ công. Thứ hai, các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đã giúp người dân thay đổi tập quán canh tác, áp dụng khoa học kỹ thuật, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Thứ ba, năng lực của cán bộ và nhận thức của cộng đồng được nâng lên, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài. Những kết quả này là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của chính sách dân tộc và là động lực để Bắc Mê tiếp tục nỗ lực trong giai đoạn tiếp theo.

3.1. Cải thiện đột phá cơ sở hạ tầng xã đặc biệt khó khăn

Hợp phần đầu tư cơ sở hạ tầng xã đặc biệt khó khăn là điểm sáng nổi bật nhất của Chương trình 135 tại Bắc Mê. Hàng loạt công trình thiết yếu đã được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp. Hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã được bê tông hóa, giúp việc đi lại và vận chuyển hàng hóa không còn là trở ngại lớn. Các công trình thủy lợi nhỏ được kiên cố hóa, đảm bảo nước tưới tiêu ổn định cho sản xuất nông nghiệp. Nhiều trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Sự thay đổi về hạ tầng đã tạo ra một diện mạo mới cho các xã nghèo, là tiền đề quan trọng để thu hút các nguồn lực đầu tư khác.

3.2. Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Thông qua hợp phần hỗ trợ phát triển sản xuất, hàng nghìn hộ dân nghèo đã được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi, cây con giống chất lượng cao và các lớp tập huấn kỹ thuật. Chương trình đã hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình kinh tế hiệu quả như trồng cây ăn quả có múi, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng hàng hóa. Điều này không chỉ giúp tăng thu nhập trực tiếp cho các hộ gia đình mà còn góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại địa phương, giảm dần sự phụ thuộc vào cây lúa và các phương thức canh tác lạc hậu. Người dân đã bắt đầu có ý thức sản xuất gắn với nhu cầu thị trường, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn.

IV. Top 5 giải pháp nâng cao hiệu quả Chương trình 135 ở Bắc Mê

Để tối ưu hóa tác động của Chương trình 135 và giải quyết các tồn tại, huyện Bắc Mê cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược. Trọng tâm là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 135, đảm bảo mỗi đồng vốn đầu tư đều mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Giải pháp hàng đầu là tăng cường công tác quy hoạch và thực hiện lồng ghép hiệu quả các chương trình, dự án trên cùng một địa bàn. Thay vì đầu tư dàn trải, cần tập trung nguồn lực vào các công trình, mô hình sản xuất có tính lan tỏa cao. Thứ hai, cần xây dựng cơ chế quản lý tài chính minh bạch, công khai, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát từ cấp huyện đến cơ sở, đặc biệt là phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và có đầu ra ổn định. Thứ tư, cần vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách của trung ương và tỉnh để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị. Cuối cùng, việc nâng cao năng lực cán bộ cơ sở là nhiệm vụ then chốt, đảm bảo đội ngũ này đủ sức dẫn dắt và tổ chức thực hiện thành công các mục tiêu đề ra.

4.1. Phương pháp lồng ghép hiệu quả các chương trình dự án

Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án là giải pháp tối ưu để tránh đầu tư chồng chéo và phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực. Huyện Bắc Mê cần xây dựng một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể cho các xã ĐBKK, trong đó xác định rõ vai trò và sự đóng góp của từng chương trình (Chương trình 135, Chương trình 30a, xây dựng nông thôn mới...). Ban chỉ đạo cấp huyện phải đóng vai trò điều phối viên, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các ngành, đảm bảo các dự án hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ hạ tầng, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.

4.2. Vận dụng cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện địa phương

Mỗi địa phương có những đặc thù riêng, do đó việc áp dụng máy móc các chính sách từ cấp trên sẽ không mang lại hiệu quả cao. Chính quyền huyện Bắc Mê cần chủ động nghiên cứu, đề xuất với tỉnh và trung ương những cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp với điều kiện của mình. Ví dụ, có thể đề xuất cơ chế hỗ trợ đặc biệt cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, hoặc cơ chế phân cấp mạnh mẽ hơn cho cấp xã trong việc quyết định các dự án đầu tư quy mô nhỏ. Sự linh hoạt này sẽ giúp chính sách dân tộc thực sự đi vào cuộc sống.

4.3. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

Để tạo ra đột phá về năng suất và chất lượng, việc tăng cường áp dụng khoa học công nghệ là con đường tất yếu. Chương trình 135 cần ưu tiên nguồn lực cho các hoạt động chuyển giao kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn công nghệ mới. Các hoạt động này cần tập trung vào việc cải tạo giống, áp dụng quy trình canh tác tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh hiệu quả và công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học để đưa cán bộ kỹ thuật về "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" với bà con là một cách làm hiệu quả để khoa học công nghệ thực sự bén rễ trên đất Bắc Mê.

V. Tương lai Chương trình 135 Hướng đi bền vững cho Bắc Mê

Chặng đường phía trước của công cuộc giảm nghèo ở Hà Giang nói chung và ở Bắc Mê nói riêng vẫn còn nhiều thách thức. Để Chương trình 135 và các chính sách kế thừa phát huy hiệu quả bền vững, định hướng trong tương lai cần có sự thay đổi về chất. Thay vì tập trung vào việc "cho cần câu", chương trình cần chuyển mạnh sang "dạy cách câu cá và tạo ra ngư trường". Điều này đòi hỏi phải đặt yếu tố con người vào vị trí trung tâm. Tiếp tục đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở là ưu tiên hàng đầu. Song song đó, cần tăng cường vai trò của người dân, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng một cách thực chất, từ đó khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường. Hướng đi tương lai cũng cần chú trọng đến việc liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, kết nối các hộ sản xuất nhỏ lẻ với doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ. Chỉ khi đó, kết quả giảm nghèo mới thực sự bền vững, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số một cách toàn diện và lâu dài.

5.1. Xây dựng nhân sự và phát huy nội lực của cộng đồng

Con người là yếu tố quyết định. Giải pháp căn cơ là xây dựng một đội ngũ cán bộ cơ sở vừa có tâm, vừa có tầm, đủ năng lực để dẫn dắt cộng đồng. Đồng thời, công tác tuyên truyền cần được đổi mới, hướng tới việc thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí vươn lên của chính người dân. Khi sự tham gia của cộng đồng được phát huy tối đa, người dân sẽ chủ động tìm kiếm cơ hội, đóng góp công sức và trí tuệ vào quá trình phát triển chung, tạo ra sức mạnh nội sinh to lớn cho công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững.

5.2. Kiến nghị chính sách đối với Trung ương tỉnh và huyện

Để nâng cao hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ từ các cấp. Đối với Trung ương, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng tăng cường phân cấp, trao quyền tự chủ lớn hơn cho địa phương và đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Đối với tỉnh Hà Giang, cần ưu tiên phân bổ thêm nguồn lực đối ứng, đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc. Đối với huyện Bắc Mê, cần chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, xây dựng các mô hình điểm và nhân rộng các điển hình tiên tiến, đảm bảo các chính sách dân tộc được triển khai một cách hiệu quả nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chương trình 135 trên địa bàn huyện bắc mê tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc thiết kế 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Cơ sở lý luận cơ bản về nghèo đói và Chƣơng trình 135 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng triển khai chƣơng trình 135 tại địa bàn huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực thực hiện Chƣơng trình 135 trên địa bàn huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ CHƢƠNG TRÌNH 135 1. Khái niệm về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 1. Đói nghèo Đói (hay thiếu đói), theo giác độ xã hội là lâm vào tình trạng thiếu lƣơng thực. Đó là tình trạng thiếu thốn, khó khăn về đời sống vật chất đến mức nhu cầu thiết yếu số một để tồn tại (nhu cầu ăn) cũng không thể đáp ứng đƣợc.

Ngƣời bị thiếu đói thƣờng là do gặp phải hoàn cảnh khó khăn về điều kiện sinh sống, nhƣ không có đủ điều kiện sản xuất, tạo thu nhập; không đủ sức lao động; hoặc gặp phải những sự cố bất thƣờng nhƣ ốm đau, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh… Nghèo là ở vào tình trạng không có hoặc córất ít những gì thuộc yêu cầu tối thiểu củađời sống vật chất. Ngƣời nghèo thƣờng cũng do gặp phải những hoàn cảnh nêu trên, nhƣng mức độ ít gay gắt hơn, nên có thể trang trải đƣợc lƣơng thực cho nhu cầu ăn, không bị đói. Tuy phân chia về mức độ nhƣ vậy, nhƣng trên thực tế ranh giới đói, nghèo; thiếu hay không thiếu lƣơng thực cũng rất mong manh. Vì vậy, trong nhiều trƣờng hợp ngƣời ta vẫn gộp chung lại, gọi là tình trạng đói nghèo[27].

Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, đã định nghĩa: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng”. Định nghĩa đó cũng đƣợc Nhà nƣớc Việt Nam thừa nhận trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện “Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo”, đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày 21 tháng 5 năm 2002. Xóa đói giảm nghèo Xóa đói, giảm nghèo(XĐGN) là làm cho ngƣời nghèo, vùng nghèo có cơ hội tăng thêm thu nhập từ lao động của chính họ và sự hỗ trợ của Nhà nƣớc và cộng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng; có khả năng tiếp cận đƣợc các dịch vụ xã hội để nâng cao đời sống. XĐGN là hy vọng của mỗi ngƣời dân, là tuyên ngôn và hành động của mọi Nhà nƣớc, đƣợc coi nhƣ một trong các yêu cầu tiên quyết cho sự phát triển bình thƣờng của xã hội và hiệu quả quản lý quốc gia.

Cơ chế, chính sách XĐGN là hệ thống các quy định của Nhà nƣớc về phƣơng thức tổ chức, quản lý, vận hành và những nguyên tắc, chuẩn mực cụ thể nhằm hỗ trợ các đối tƣợng đói nghèo có cơ hội huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để vƣợt qua những trở ngại, khó khăn, yếu thế, tiếp cận các dịch vụ xã hội, tổ chức sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, vƣơn lên thoát nghèo. Cơ chế, chính sách XĐGN ở nƣớc ta đƣợc thực hiện thông qua các chƣơng trình, dự án, các quy định của Nhà nƣớc nhƣ Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005, theo Quyết định 143/2001/QĐ-TTg, ngày 27/9/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ; Dự ánkhuyến nông - lâm - ngƣ và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề thuộc Chƣơng trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 theo Quyết định 20/2007/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ; Quy định về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nƣớc sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tƣớng Chính phủ… 1. Các thƣớc đo về đói nghèo 1. Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo) Ngƣỡng nghèo là mức độ về đời sống, đƣợc xác định để phân chia ranh giới giữa “nghèo” và “không nghèo”.

Đây là một trong những thƣớc đo quan trọng để đánh giá tình trạng đói nghèo và đối tƣợng cần hỗ trợ XĐGN. Có 2 loại ngƣỡng nghèo là ngƣỡng nghèo tuyệt đối và ngƣỡng nghèo tƣơng đối. Ngưỡng nghèo tuyệt đối là số tuyệt đối về mức sống của cá nhân, hộ gia đình đƣợc coi là nghèo, trong một khoảng thời gian nhất định của mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng. Tuỳ thuộc vào mức sống chung và trình độ phát triển trong mỗi giai đoạn, cấp chính quyền ban hành ngƣỡng nghèo tuyệt đối cho quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực hoặc địa phƣơng.

Khi trình độ phát triển còn thấp, một bộ phận đáng kể cƣ dân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn chƣa đủ ăn, ngƣời ta thƣờng ban hành ngƣỡng nghèo tuyệt đối về lƣơng thực, thực phẩm (là số tiền cần thiết để mua đƣợc một lƣợng lƣơng thực, thực phẩm bảo đảm cung cấp một lƣợng calo để duy trì cuộc sống và tái sản xuất sức lao động); và ngƣỡng nghèo chung (có tính đến số tiền chi tiêu cho cả các sản phẩm phi lƣơng thực khác). Ở nƣớc ta, ngƣỡng nghèo tuyệt đối đƣợc ban hành cho từng giai đoạn, theo các khu vực. Giai đoạn 1996-2000: nông thôn miền núi, hải đảo 55.000 đồng/ngƣời/tháng; nông thôn đồng bằng: 70. Giai đoạn 2000 – 2005: nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ; nông thôn đồng bằng: 100.

Giai đoạn 2006 – 2010: quy định 2 ngƣỡng nghèo là: nông thôn: 200. Ngoài ra cũng sử dụng thƣớc đo về thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ một tháng quy gạo để làm chuẩn đói: Giai đoạn 1993- 1995: thành thị dƣới 13kg, nông thôn: dƣới 8kg; giai đoạn 1995-2000: dƣới 13kg cho tất cả các vùng. Ngân hàng thế giới (WB) cũng đƣa ra ngƣỡng nghèo tuyệt đối là 1USD/ngƣời/ngày (theo giá năm 1999) cho các nƣớc có GNP bình quân đầu ngƣời từ 755 USD/năm trở xuống (nƣớc có thu nhập thấp) và 2 USD/ngƣời/ngày cho các nƣớc có thu nhập 756 đến 2. Ngưỡng nghèo tương đối là mức sống (mức thu nhập) của đối tƣợng, tính theo tỷ lệ phần trăm so với thu nhập trung bình đầu ngƣời của toàn xã hội.

Tỷ lệ này thƣờng đƣợc xác định ở mức 50% hoặc 60%. Những ngƣời có mức thu nhập ròng thấp hơn mức này thì đƣợc coi là ngƣời nghèo. Tỷ lệ đói nghèo Tỷ lệ đói nghèo là tỷ lệ phần trăm giữa số lƣợng ngƣời nghèo (hoặc hộ nghèo) trên tổng dân số (hoặc tổng số hộ). Đây là một thƣớc đo đói nghèo thông dụng để đánh giá tình trạng đói nghèo cho mỗi vùng, mỗi địa phƣơng.

Mặt hạn chế của chỉ tiêu này là chƣa thể hiện đầy đủ đƣợc mức độ và tính chất đói nghèo so với chuẩn nghèo (mức độ nằm dƣới, cách xa ngƣỡng nghèo; mức độ cận trên chuẩn nghèo) do đó không chỉ rõ đƣợc cơ cấu đầy đủ của tình trạng đói nghèo. Bởi vậy, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ đói nghèo thì sẽ khó khăn trong việc đƣa ra chính sách XĐGN sát hợp với từng loại đối tƣợng, ở từng vùng (nhƣ nghèo giữa đồng bào dân tộc thiểu số với ngƣời kinh; giữa vùng đồng bằng, trung du với vùng cao…). Khoảng nghèo Khoảng nghèo đƣợc tính bằng tổng mức thiếu hụt của tất cả những ngƣời nghèo so với ngƣỡng nghèo. Đây là chỉ tiêu để đánh giá bổ sung cho mức độ đói nghèo của mỗi cộng đồng dân cƣ, mỗi vùng, mỗi địa phƣơng.

Trên cơ sở đó để hoạch định chính sách XĐGN cho phù hợp. Nó cũng cho tahình dung về mức chi phí cần phải đầu tƣ để tất cả những ngƣời nằm dƣới ngƣỡng nghèo có thể vƣơn lên đạt mức sống ngang bằng với ngƣỡng nghèo. Nguyên nhân của đói nghèo Trên Thế giớiđã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân đói nghèo. Phil Bartle, chuyên gia xã hội học của các cộng đồng, cố vấn cho nhiều dự án phát triển đã đƣa ra mô hình về 5 yếu tố lớn dẫn đến sự nghèo đói, đó là: (1) Sự thiếu hiểu biết: không chỉ là do thiếu kiến thức mà chủ yếu là sự thiếu những thông tin cần thiết, hữu ích cho ngƣời nghèo.

Vì vậy, việc giáo dục, đào tạo cần phải chọn lọc những kiến thức phù hợp để giảng dạy, đặc biệt là đối với các cộng đồng dân cƣ có tính đặc thù nhƣ đồng bào dân tộc thiểu số. (2) Ốm đau, bệnh tật: là nhân tố làm giảm khả năng lao động, thu không đủ chi, dẫn tới đói nghèo; cần đề cao vai trò y tế cơ sở và tạo cơ hội để ngƣời nghèo tiếp cận các dịch vu y tế. (3) Sự lãnh đạm: khi con ngƣời cảm thấy bất lực trƣớc hoàn cảnh, không còn ý chí vƣơn lên để cải thiện tình trạng nghèo đói của mình. (4) Tệ nạn tham nhũng: không chỉ làm giảm nguồn tiền hỗ trợ giảm nghèo do quan chức chính phủ xà xẻo mà nghiêm trọng hơn là nó có thể làm méo mó chính sách, suy giảm lòng tin của ngƣời nghèo.

Ở Việt Nam, trải qua lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nƣớc, nhân dân ta đã phải tiêu tốn không ít sức lực và của cải, sản xuất bị đình trệ, kết cấu hạ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tầng bị phá hủy… là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng đói nghèo. Ngoài những nguyên nhân đó, trong thời kỳ xây dựng đất nƣớc, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nguyên nhân đói nghèo đƣợc phân theo 8 nhóm chủ yếu sau[33]: - Nguồn lực hạn chế: gồm tài lực (vốn đầu tƣ), vật lực (đất đai, tƣ liệu sản xuất.), nhất là nguồn nhân lực, vì ngƣời nghèo không có điều kiện đầu tƣ cho tái sản xuất sức lao động của họ. Nhân lực thấp lại càng cản trở khả năng thoát nghèo; tình trạng thiếu đất đai có xu hƣớng tăng lên trong quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất; không có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ sản xuất nhƣ khuyến nông, bảo vệ thực vật; thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng, do không đủ điều kiện thế chấp; thiếu thông tin về pháp luật, chính sách, thị trƣờng… - Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định: Không có điều kiện học tập, và vì vậy thiếu khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ