MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Từ nửa cuối của thế kỷ XX đến nay, nền kinh tế thế giới đi theo xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, nhất là về kinh tế và thương mại gắn liền với sự phát triển của Khoa học công nghệ và thông tin viễn thông. Tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ quá trình này đã dẫn dắt các nền kinh tế nói chung và mỗi địa phương, doanh nghiệp hay nông dân nói riêng từng bước có sự liên kết ngày càng chặt chẽ với nhau từ đó hình thành nên các chuỗi giá trị sản phẩm. Quá trình này cũng tác động sâu rộng tới nền sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới. Kể từ sau Đổi mới (1986) đến nay, chúng ta đã từng bước mở cửa nền kinh tế và ngày càng hội nhập sâu rộng, coi đây như là một động lực quan trọng cho phát triển bền vững nền kinh tế quốc gia. Để đáp ứng nhu cầu phát triển mới cũng như tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 26-NQ/TW Trung ương 7 khóa X ngày 05/ 8/2008 về tam nông, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 để thực hiện “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. Trong đề án này đã chỉ rõ ngành trồng trọt được tái cơ cấu theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền.
Nhằm củng cố cho hướng phát triển nông nghiệp bền vững theo chuỗi giá trị đáp ứng nhu cầu hội nhập trong những năm tiếp theo của Việt Nam, Quyết định 1819/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2017 về “Quyết định phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020”; Nghị quyết 53/NQ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2019 về “Nghị quyết về giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững” đã ra đời. Bên cạnh đó, nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới được ký kết, và gần đây nhất là Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước Châu Âu (EVFTA), càng mở rộng hơn cánh cửa xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ nói chung và xuất khẩu nông sản, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam, ngay cả ở thị trường nội địa. Nho là loại quả được tiêu dùng phổ biến ở trong và ngoài nước. Tại Việt Nam, cây nho được trồng chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận: chiếm 91,65% tổng diện tích và 1 98,06% tổng sản lượng nho cả nước (NGTK Ninh Thuận 2021, NGTK Việt Nam 2021).
Mặc dù cây nho đã được trồng thử nghiệm ở một số địa phương khác, tuy nhiên, Ninh Thuận là tỉnh có quy mô và kinh nghiệm trồng nho theo hướng sản xuất hàng hóa lớn nhất ở Việt Nam. Sản phẩm nho Ninh Thuận một phần được xuất khẩu đi một số thị trường truyền thống, còn lại phần lớn sản lượng nho tươi chủ yếu được tiêu thụ rộng khắp các tỉnh thành trong nước. Đối với tỉnh Ninh Thuận, nho được đánh giá là một trong 06 mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh dựa trên 6 tiêu chí, gồm 3 tiêu chí về kinh tế, 2 tiêu chí về xã hội, và 1 tiêu chí môi trường (Quyết định số 740/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Thuận ngày 09/5/2019). Đối với nhiều hộ nông dân, trồng nho vừa là văn hóa, vừa là sinh kế, việc làm và tạo ra nguồn thu nhập chính của hộ, đối với tỉnh Ninh Thuận, nho là một đặc sản có danh tiếng trên thị trường.
Nho Ninh Thuận cũng chịu những tác động đáng kể từ bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt khi Việt Nam triển khai tự do hóa thương mại với nhiều nước như Nga, các nước châu Âu, Úc, New Zealand, Mỹ, và Trung Quốc, thì nho Ninh Thuận càng chịu nhiều áp lực cạnh tranh hơn khi nho từ các quốc gia này có thể thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Trong bối cảnh đó, trong những năm vừa qua, tỉnh Ninh Thuận đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm khuyến khích nông dân trồng nho theo mô hình liên kết thành trang trại lớn nhằm đưa khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ngành nho Ninh Thuận đang tồn tại nhiều vấn đề làm ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm như: Nhiều hộ nông dân trồng nho với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu làm theo kinh nghiệm, thiếu liên kết theo Hợp tác xã (HTX), nhóm, hoặc liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị; khâu thu hoạch, sơ chế, bảo quản, đóng gói còn khá thô sơ và chủ yếu làm thủ công; các sản phẩm chế biến chủ yếu được làm thủ công với quy mô nhỏ lẻ.
Bên cạnh đó, các điều kiện hạ tầng chung chưa được đầu tư thích đáng, các dịch vụ logistics còn hạn chế và có chi phí cao, sự phân bổ lợi ích theo chuỗi còn nhiều vấn đề đặt ra khiến cho sản xuất bấp bênh, thu nhập của hộ sản xuất còn thấp, chưa phát huy hết lợi thế và tiềm năng của địa phương đối với ngành trồng nho,. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, thông qua cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Chuỗi giá trị nông sản của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập: Nghiên cứu trường hợp nho Ninh Thuận” làm luận án tiến sỹ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Mã số 9.05, với 2 mong muốn tiếp tục đóng góp về lý luận và thực tiễn về sự phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị nói chung và chuỗi giá trị nho Ninh Thuận nói riêng, làm căn cứ cho gợi ý quan điểm, giải pháp hoàn thiện chuỗi giá trị nho Ninh Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 2.1 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài luận án nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng chuỗi giá trị nho Ninh Thuận làm căn cứ đề xuất giải pháp hoàn thiện chuỗi giá trị nho Ninh Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tiếp theo.2 Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. (2) Khảo sát, phân tích thực trạng chuỗi giá trị nho Ninh Thuận; Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế của chuỗi giá trị nho Ninh Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
(3) Đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị nho Ninh Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tiếp theo. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị nông sản và chuỗi giá trị nho Ninh Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.2 Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi thời gian: + Thời gian thực hiện nghiên cứu từ 2015-2020; + Thời gian dữ liệu nghiên cứu: Thời gian lấy số liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa về chuỗi giá trị nho Ninh Thuận năm 2018. Thời gian số liệu thứ cấp: Số liệu thống kê từ Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận; Niên giám thống kê Việt Nam (Tổng cục thống kê) các năm từ năm 2014-2021; Số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (International Trade Center) từ năm 2013-2021. - Phạm vi không gian: Ninh Thuận và một số tỉnh thành khác 3 + Tỉnh Ninh Thuận: Nhằm khảo sát thu thập dữ liệu thực địa từ các tác nhân cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom và thương mại trong tỉnh, sự tham gia của cơ quan quản lý và các dịch vụ vận hành CGT nho trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
+ Tỉnh thành khác: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh,…: nhằm thu thập các dữ liệu thực địa từ các nhóm tác nhân khâu thương mại, bao gồm cửa hàng, siêu thị, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng sản phẩm nho Ninh Thuận - Phạm vi nội dung: Đề tài luận án tập trung nghiên cứu thực trạng chuỗi giá trị nho tươi của tỉnh Ninh Thuận, bao gồm xác định các tác nhân của chuỗi, lập sơ đồ chuỗi nho tổng quát và các sơ đồ chi tiết; phân tích thực trạng và nguyên nhân các mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị; phân tích hiệu quả hoạt động chuỗi thông qua đánh giá giá trị gia tăng của từng nhóm tác nhân trong chuỗi; phân tích nguyên nhân tác động đến hiệu quả hoạt động của chuỗi và thu nhập của hộ nông dân trồng nho; đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị nho Ninh Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.