Chương 1: “CNDT ở Châu Âu: Khái niệm và quá trính phát triển” sẽ đưa ra những khái niệm cơ bản để có cái nhín khái quát về CNDT và những ảnh hưởng của nó, đồng thời phân tìch sự hính thành và phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu. Chương 2: “Sự hính thành và đặc điểm chủ nghĩa dân tộc Anh” sẽ nói về các giai đoạn phát triển CNDT ở Anh và đặc điểm của CNDT ở Anh qua các thời kỳ và so sánh nó với các giai đoạn phát triển của CNDT châu Âu. Chương 3: “Biểu hiện của CNDT ở Anh trong quan hệ với Liên minh châu Âu” sẽ phân tìch các biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc của Vương Quốc Anh trong quan hệ đối ngoại với Liên minh Châu Âu. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CHỦ NGHĨA DÂN TỘC Ở CHÂU ÂU: KHÁI NIỆM VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 1.1 Khái niệm và ảnh hƣởng của chủ nghĩa dân tộc 1.1 Khái niệm chủ nghĩa dân tộc Trước khi đến với thuật ngữ “Chủ nghĩa dân tộc”, chúng ta cần phải hiểu thuật ngữ “dân tộc” để có thể lý giải được nguồn gốc đầu tiên hính thành CNDT bởi ví có dân tộc nên mới hính thành tư tưởng dân tộc – CNDT.
Con người phải thuộc về một dân tộc trước khi bộc lộ CNDT. “Dân tộc” (nation) là thuật ngữ có nguồn gốc từ từ Latin cổ “natio” - dùng để chỉ dân cư của một nhà nước hay một thành bang cổ kết với nhau thông qua việc có chung nguồn gốc hoặc một chủng tộc, quần cư trên một khu vực hoặc một vùng lãnh thổ xác định1. Học giả Trung Quốc Lương Khải Siêu đã sử dụng danh từ “dân tộc” để dịch từ khái niệm “nation” vào đầu thế kỷ XX. Trên thực tế, khái niệm “dân tộc” đã được rất nhiều học giả đưa ra các định nghĩa riêng2.
Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến nhất của dân tộc là cộng đồng người hính thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, có chung huyết thống, hính thái cơ thể, có chung một ngôn ngữ, và có chung một nền văn hóa với một số đặc trưng và tình cách khi xã hội phân chia giai cấp và hính thành nhà nước. Một số tiêu chì đã được các nhà nghiên cứu ở phương Tây đặt ra để xác định một dân tộc: “Dân tộc là một thuật ngữ dùng để chỉ những nhóm người rộng lớn được cố kết thành cộng đồng nhờ vào ý thực của họ về đặc trung về văn hóa và/hoặc chính trị riêng. Ý thức đó có thể được hình thành trên cơ sở của những cái chung về nguồn gốc, ngôn ngữ tôn giáo, văn hóa và lịch sử, cũng như dựa trên những điểm chung về 1 Phạm Hồng Tung (2006), Vấn đề dân tộc và phương thức hình dung về cộng đồng dân tộc trong những chuyển biến của Thế giới- Trong “Một chặng đường nghiên cứu lịch sử 2001 – 2006, NXB Thế giới, Hà Nội, tr 835 2 Lương Văn Kế (2007), Thế giới đa chiều, NXB Thế giới, Hà Nội, tr 303 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình dung thế giới, các quan niệm chung về luật pháp, nhà nước và xã hội”3. Nhiều học giả, nhà nghiên cứu cho rằng để thừa nhận sự hiện diện của một dân tộc bất kỳ thí cần những tiêu chì sau đây: Thứ nhất, dân tộc là một sản phẩm của giai đoạn lịch sử phát triển cao của loài người.
Nó là một hiện tượng xã hội phát triển đến một trính độ nhất định và được cả cộng đồng thừa nhận. Thứ hai, một dân tộc đòi hỏi các các thành viên của nó có chung các đặc điểm đồng nhất về ngôn ngữ, khu vực cư trú, cách thức hoạt động kinh tế và tố chất tâm lý được thể hiện qua đặc trưng văn hóa dân tộc. Thứ ba, sự ổn định và dân tộc được thể hiện qua khả năng phản kháng lại những tác động hoặc hành động buộc dân tộc đó chia rẽ hoặc áp đặt những giá trị văn hóa dân tộc khác như thói quen, tập tục, ngôn ngữ lên một dân tộc.4 Dân tộc và quốc gia là hai khái niệm thường được đến song hành với nhau, nhưng về bản chất chất hai khái niệm này lại khác nhau mà không ìt người đã nhầm lẫn. Dân tộc là bản thể của quốc gia và ngược lại.
Nhắc đến dân tộc là nói đến một cộng đồng với những điểm đồng nhất về văn hóa ngôn ngữ, hệ giá trị tôn giáo… có ý thức dân tộc riêng, còn quốc gia (nation-state) lại là một khái niệm về một chủ thể có địa lý chình trị, có một công đồng dân cư, mỗi lãnh thổ xác định, có nhà nước quản lý luôn cố gắng duy trí sự độc lập về đối nội và tự chủ trong đối ngoại. Có thể khẳng định rằng, sự ra đời của dân tộc là trụ cột trong hính thành quốc gia. Một dân tộc suy vong đánh mất quốc gia của mính trong quá trính cạnh tranh sinh tồn với quốc gia khác, thí sự tan vỡ của quốc gia không đi kèm với sự sụp đổ hoàn toàn của quốc gia đó. Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) được hiểu là ý thức về sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc, sắc tộc khác nhau hay tư tưởng chi phối đến các hành động ví quyền lợi dân tộc.
CNDT là một hiện tượng chình trị có nhiều cách hiểu, được biểu hiện dưới 3 Phạm Hồng Tung (2006), Vấn đề dân tộc và phương thức hình dung về cộng đồng dân tộc trong những chuyển biến của Thế giới- Trong “Một chặng đường nghiên cứu lịch sử 2001 – 2006, NXB Thế giới, Hà Nội, tr 840 4 Lương Văn Kế( 2007), Thế giới đa chiều, NXB Thế giới, Hà Nội, tr 304-305 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều hính thái và mức độ khác nhau trong mỗi bước ngoặt hay từng giai đoạn lịch sử biến động của mỗi quốc gia. Bởi sự nhận thức rõ ràng về dân tộc, khiến con người muốn dân tộc được công nhận, định hính được bản sắc của dân tộc mính, từ đó sản sinh ra tính yêu dân tộc, ý thức về chủ quyền cùng như bảo vệ chủ quyền, bản sắc, lợi ìch của dân tộc. Theo George Orwell thí CNDT hoặc “ tinh thần dân tộc” là “thói quen đồng nhất mình với một dân tộc hoặc một đơn vị duy nhất nào đó khác, đặt nó cao hơn thiện ác và không công nhận một nghĩa vụ nào khác ngoài thúc đẩy các quyền lợi của nó”5. Quốc gia với những đặc trưng xác định về không gian, văn hóa, lịch sử đã làm nảy sinh ý thức bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền, lợi ìch kinh tế, chình trị đồng thời gây dựng sự cố kết và những mối liên hệ chặt chẽ giữa các dân tộc trong phạm vi quốc gia đó với sự lãnh đạo của các dân tộc chiếm đa số nhằm bảo vệ và duy trí lợi ìch của quốc gia đã hính thành quốc gia - dân tộc (nation-state).
Định nghĩa về CNDT của Anthony D. Smith cũng tương đồng như George Orwell cho rằng CNDT là một sức mạnh tổng thể và giải phóng, được thể hiện qua năm khìa cạnh: toàn bộ quá trính hính thành và duy trí các quốc gia; một về ý thức dân tộc; một ngôn ngữ hoặc biểu tượng của dân tộc; một ý thức hệ hay một phong trào chình trị và xã hội nhằm đạt được mục tiêu quốc gia và hiện thực hóa ý chì quốc gia6. Quan niệm của Anthony đi theo chiều sâu những giá trị cốt lõi của một dân tộc với những giá trị đồng nhất giữa những người dân trong cùng một quốc gia. Chủ nghĩa dân tộc là một hệ thống các tư tưởng thường đòi quyền tự quyết, tuy nhiên, dưới góc nhín của Walker Connor thí Chủ nghĩa dân tộc là vấn đề về lòng trung thành7.
Ý thức hệ hay phong trào trong trường hợp này phải đi đôi với lòng trung thành quốc gia, sự duy trí các thuộc tình đa chiều của nó (ngôn ngữ, tôn giáo, lịch sử, các giá 5 Orwell, G., “Ghi chú về chủ nghĩa dân tộc” http://www.com/articles/54020/dominique-moisi/the- trouble-with-france 6 Anthony D.Smith (1991), National Identity, London: Penguin, pg. 72 7 Nguyễn Thành Nam (2013), Chủ nghĩa dân tộc Đông Bắc Á trong nền chính trị quốc tế đương đại. Học viện Ngoại giao, Hà Nội, tr. 6 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị truyền thống…).
Quan niệm này của Walker Connor đề cao lòng trung thành của người dân trong một dân tộc hơn là tinh thần yêu nước của họ. Quan niệm này khá phổ biến ở châu Âu vào thế kỷ XIX, khi mà các quốc gia đề cao lòng trung thành của công dân để có thể phục vụ cho quốc gia (đặc biệt trong lĩnh vực quân sự và an ninh), giúp quốc gia đạt được lợi ìch tối ưu. Trong quan hệ quốc tế, James G. Kellas cho rằng CNDT là một trong những nguyên nhân gây ra những xung đột, sự đối lập với hệ thống nhà nước hiện tại, với các thể chế quốc tế, siêu quốc gia hay xu hướng hợp tác, là một yếu tố quyết định quyền lực của nhà nước trong các vấn đề quốc tế8.
Quan niệm này của James đã lý giải được những nguyên do của những cuộc chiến tranh trong suốt chiều dài lịch sử như Thế chiến I và II khi các quốc gia bởi mâu thuẫn lợi ìch, tranh giành quyền lực mà xảy ra xung đột. Quá trính phát triển của CNDT gắn bó mật thiết với sự hính thành nhà nước tập quyền. Ý thức về sự khác biệt giữa các nền văn hóa đã được tầng lớp trên của xã hội cổ nhận ra và chia sẻ tính đoàn kết cộng đồng mính ngay từ thời xa xưa, đồng thời phân tách với các cộng đồng xung quanh. CNDT đã dần phát triển như một hiện tượng tự nhiên khó lòng thay đổi.
CNDT không phải là một khái niệm nổi trội nhất trong lý thuyết quan hệ quốc tế nhưng nó đã chứng tỏ được sự ảnh hưởng của mính đến mối quan hệ giữa các quốc gia thông qua các thực tiễn lịch sử. Mặc dù hiện nay hội nhập hóa và toàn cầu hóa là xu hướng phát triển của thế giới song CNDT vẫn duy trí sự tác động của nó. Khái niệm CNDT liên tục được thay đổi để phù hợp với tiến trính phát triển của thời đại. Ở châu Âu, theo John T.Rouke thí CNDT sơ khởi manh nha vào gần cuối Thời kỳ Tăm tối (Dark Ages) với sự sụp đổ của đế chế do vua Charlemagne xây dựng vào đầu thế kỷ IX.
Tuy nhiên, mãi đến đầu thế kỷ XVIII, CNDT hiện đại mới thực sự ra đời. CNDT hiện đại khác biệt với CNDT sơ khởi ở mức độ liên kết giữa nhân dân và 8 James G. Kellas (1991), Politics of Nationalism and Ethnicity, Hampshire: Palgrave Macmillan, pg. 43 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà nước.