CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN VÀ NGHIÊN CỨU Như đã trình bày ở Dán nhập, trong chương này chúng tôi sẽ triên khai hai nội dung chính: tình hình tiếp nhận trường phái Hình thức Nga trong đời sống văn học Việt Nam; và tình hình nghiên cứu thơ dan thân ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975. Những thông tin về tình hình nghiên cứu, cả bình diện lịch sử lẫn bình diện lý thuyết sẽ giúp chúng tôi xác định được chỗ đứng nghiên cứu của mình, nhăm tiếp tục đối thoại, khám phá về đối tượng mà chúng tôi đang tìm hiểu.1 Tình hình tiếp nhận trường phái Hình thức Nga trong đời sống văn học Việt Nam Trong phan này, chúng tôi sẽ trình bày chung tat cả hoạt động tiếp nhận, gồm giới thiệu, dịch thuật, nghiên cứu, vận dụng, ở các không gian khác nhau theo trình tự thời gian, bởi vì, chúng tôi nghĩ là các hoạt động có mối tương liên với nhau rõ rệt. Ở Việt Nam, tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết phương Tây có sự khác nhau do hệ thống chính trị tư tưởng khác nhau. Từ năm 1954 - 1975, miền Bắc chịu ảnh hưởng của hệ lý thuyết Marx - Lenin, miền Nam phát triển trong thiết chế dân chủ tư sản.
Vì vậy, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi miền Bắc còn xem lý luận và phê bình phương Tây là phi chính thống, thì ở miền Nam đã tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết phương Tây. Những lý thuyết mới của Thi pháp học, Cấu trúc luận, và cả Hình thức Nga lần lượt mang đến cho văn học miền Nam nhiều ảnh hưởng tích cực. Nguyễn Văn Trung là một trong những gương mặt tiên phong ở miền Nam tiếp cận và vận dụng thành tựu lý thuyết văn học phương Tây. Năm 1965, trong Lược khảo văn học tập 3, ông đã đề cập đến các hệ thống lý thuyết và phê bình văn học.
Trong chương Ngôn ngữ văn chương, ông đề xuất quan điểm xem ngôn ngữ văn chương như một hệ thống tín hiệu, và cũng là người đầu tiên đề cập đến lý thuyết của Roman Jakobson: “R. Jakobson phân biệt sáu yếu tô của lời nói: người nói, người nghe, hoàn cảnh, sứ điệp, tiếp xúc, ám hiệu” (Nguyễn Văn Trung, 1965, tr. Kết hợp với các lý thuyết Phân tâm học, Hiện sinh, Cấu trúc luận, công trình này đã đưa ra những gợi mở mới mẻ cho người sáng tác và phê bình văn học Việt Nam. Năm 1972, nhà phê bình Đặng Tiến xuất bản Vii tru tho (Giao Điểm, Sài Gòn) dựa trên sự vận dụng lý thuyết Hình thức Nga.
Trên tinh thần tiếp thu thi pháp của 9 Roman Jakobson, tác giả khai thác tính thâm mỹ và tính độc lập của thơ, tập trung vào nhạc điệu và hình ảnh của ngôn ngữ thơ. Năm 2008, ông ra mắt Vii tru thơ II, công bố ở Mỹ (Thư Ấn Quán, Hoa Kỳ) trên cùng quan điểm tiếp cận. Đến năm 2009, quyên Tho - thi pháp và chân dung của Đặng Tién ra đời như phiên bản hoàn thành công trình trước đó. Trong phan đầu quyên sách, tác giả đã nhắn mạnh quan điểm của Jakobson: “trong ngôn ngữ thi ca ký hiệu tự bản thân nó đã hoàn tất một giá trị độc lập” (Đặng Tiến, 2009, tr.
Ý thức vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong thơ (“thơ là ngôn ngữ tự lay mình làm đối tượng”) cả ba công trình của Đặng Tiến đều tập trung khám phá mỹ tính của thơ Việt qua các tác phẩm của những nhà thơ hàng đầu như Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Xuân Diệu, Quang Dũng, Lê Dat, Bùi Giáng,. Khởi từ góc độ ngôn ngữ học, Đặng Tiến năm bắt các biéu đạt mang dấu ấn cá nhân và lý giải tất cả bằng nền tảng xã hội. Cách làm này tạo nên sự cân đối, khoa học và uyên chuyên mềm mai cho công trình. Công trình Ngôn ngữ tho của Nguyễn Phan Cảnh (1987) đã vận dụng lý thuyết về thi học của Jakobson dé nghiên cứu đặc trưng của ngôn ngữ thơ trong mối quan hệ với ngôn ngữ văn xuôi và phân tích thơ dựa trên hai thao tác cơ bản là lua chọn và kết hop.
Dùng lý thuyết về sáu chức năng ngôn ngữ của Jakobson, tác giả đã chứng minh một số nét đặc thù của thơ như: chức năng thâm mỹ chiếm ưu thế, chức năng giao tiếp trở nên đa nghĩa, có tính chất nước đôi, nhập nhằng. Cũng như các nhà Hình thức Nga, Nguyễn Phan Cảnh phân biệt văn xuôi và thơ: trong thơ, “tính tương đồng của các don vị ngôn ngữ lại được dùng dé xây dựng các thông báo” (Nguyễn Phan Cảnh, 1987, tr. Ông nhắn mạnh: “nếu trong văn xuôi “lặp lại là điều tối ky” thì “chính cái điều văn xuôi rất ky ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ” (Nguyễn Phan Cảnh, 1987, tr. Về nhạc tính của thơ, tác giả cho rằng, đó là kết quả của các khai thác dựa vào nguyên âm, phụ âm (với các văn bản ngôn ngữ chủ yếu được xây dựng bằng trục lựa chon) và dựa vào thanh điệu (với các văn bản ngôn ngữ chủ yếu được xây dựng bằng trục kết hợp).
Bên cạnh đó, công trình còn phác họa nhiều sơ đồ khái quát về thơ. Những vận dụng của Nguyễn Phan Cảnh góp phan khang định giá trị lý thuyết của trường phái Hình thức Nga, đặc biệt là các phát kiến trong nghiên cứu về thơ là cột mốc đánh dấu những bước đầu đổi mới trong hoạt động nghiên cứu thơ tại Việt Nam. Nhìn chung, đây là một chuyên luận mang tính nghiên cứu chuyên môn cao, 10 mang lại nhiều cảm hứng mới mẻ cho những người nghiên cứu lý thuyết thơ tại Việt Nam. Năm 1995, trong Cấu trúc thơ, Thụy Khuê vận dụng lý thuyết của R.
Jakobson vào khai thác thơ Việt Nam. Phần đầu, tác giả phân tích các cấu trúc cơ bản của thơ: nhận diện thơ, ân dụ, hoán dụ trong thơ, lựa chọn và kết hợp trong thơ, phiếm định, nguyên lý song song. Phần sau, tác giả tập trung nghiên cứu các dòng thơ siêu thực, thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ tạo sinh. Trong chương “Cấu trúc hình thức thi ca”, Thụy Khuê đã dùng lý thuyết về nguyên tắc tương đồng giữa trục lựa chọn và trục kết hợp để khai thác sự lựa chọn và kết hợp trong thơ Việt Nam.
“Đối với thơ, việc lựa chữ và việc kết hợp câu có giá trị tương đương. Và người ta có thê đối chiếu những chữ trong một câu thơ với nhau, hoặc những chữ trong câu thơ trên với câu thơ dưới với nhau” (Thụy Khuê, 1995, tr. Để chứng minh điều này, tác giả đã khảo sát hai trường hợp thơ Hàn Mặc Tử và thơ Nguyễn Gia Thiều. Cách nghiên cứu này của tác giả giúp người đọc hiểu rõ hơn về cấu trúc hình thức thơ ca, và cho phép định lượng “chất thơ” trong một câu thơ hay một văn bản.
Năm 1996, chuyên luận Ngôn ngữ tho Việt Nam của Hữu Dat cũng vận dụng quan điểm của R. Jakobson dé phân tích và khái quát các đặc điểm của loại hình ngôn ngữ và phong cách thơ Việt Nam. Theo tác giả, thơ là “vẻ đẹp của cuộc sống được biểu hiện một cách tập trung, khái quát nhất (.) bang những kiểu tổ chức đặc biệt của các đơn vị ngôn ngữ” (Hữu Đạt, 1996, tr. Từ quan điểm này, dựa trên hai hướng Iva chon và kết hợp của lý thuyết ngôn ngữ của R.
Jakobson, ông khai thác phương thức tạo hình và biểu hiện, cách tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng, nhạc tính và phong cách nhà thơ. Công trình này đánh dấu thành tựu của việc nghiên cứu thơ Việt Nam trong việc vận dụng lý thuyết Hình thức Nga, gợi mở hướng tiếp cận mới khoa hoc va hop lý với đặc điểm loại hình ngôn ngữ và thơ Việt Nam. Cũng trong năm 1996, Tràn Đình Sử trong Lý luận và phê bình văn học đã nhạy bén khi khẳng định vị trí của trường phái Hình thức Nga trong việc giới thuyết về lịch sử phát triển, tác giả, và các quan niệm chủ yếu của trường phái này. Bên cạnh đó, ông cho rằng, việc bao quát các “khái niệm quan trọng của thi pháp học hiện đại” (Trần Đình Sử, 1997, tr.90) là cơ sở khiến học thuyết này trở thành tiền đề cho Phê bình Mới và Chủ nghĩa cấu trúc sau này.
Đây là một trong những công trình sớm II mang lý thuyết Hình thức Nga vào Việt Nam và có những đánh giá sắc sảo, có đóng góp tích cực cho hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình ở Việt Nam. Năm 1997, trong công trình Tim hiểu tho, Mã Giang Lân góp phan quan trọng trong tiến trình nghiên cứu lý thuyết thơ qua nỗ lực khang định những mặt cơ ban nhất, đặc sắc nhất của thơ với mục đích định hình trong người đọc khả năng nhận diện những yếu tố khu biệt của thơ: định nghĩa về thơ, cái tôi trong thơ, ý thơ, tứ thơ, thể thơ. Tác giả dùng tác phẩm thơ Việt Nam cu thế để luận giải. Riêng phần “Về phương pháp nghiên cứu thơ”, Mã Giang Lân đánh giá cao Thi pháp học Hình thức và Thị pháp học Cấu trúc.
Qua việc giới thiệu Tho ca Nga hiện đại, Ngôn ngữ hoc và thi pháp học của R. Jakobson, Nhiệm vụ cua thi pháp học của B. Eikhenbaum (Mã Giang Lân, 1997, tr. 297), tác giả khang định tính hiệu qua của lý thuyết Hình thức Nga.
Từ đó, ông kết luận răng, “việc vận dụng liên phương pháp sẽ giúp người nghiên cứu phát hiện được nhiều vẫn đề, nhiều lớp nghĩa, nhiều thông báo trong một văn bản cô đọng, hàm súc” (Mã Giang Lân, 1997, tr. Năm 1998, hai tác giả Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương trong công trình /J /udn văn học, vấn dé và suy nghĩ đã tiếp cận và triển khai lý thuyết của trường phái hình thức Nga. Trong phần Đặc trung của văn học, Nguyễn Văn Hạnh đã giới thiệu về Ngón ngữ học, thi pháp học và sơ đồ sáu chức năng thi ca của R.Jakobson (Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương, 1998, tr. Trong phần luận giải về Tac phẩm văn hoc, Huỳnh Như Phương dùng nguyên lý lựa chọn và kết hợp của R.
Jakobson dé phân tích tính đặc thù của ngôn từ nghệ thuật. Trong khuôn khổ một tài liệu tham khảo về lý luận văn học với dung lượng giới hạn, nhưng những cập nhật, bỗ sung của hai tác giả về lý thuyết văn học mới đã gợi mở những cách hiểu mới, những phương pháp vận dụng mới giúp người đọc có thêm công cụ dé nghiên cứu và khám phá các hiện tượng văn học. Cũng trong năm này, khi luận bàn “Về bản chất của văn chương” trên báo Văn nghệ (4.