Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số 5.09) với đề tài "Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới (Nghiên cứu trường hợp chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang)" được nghiên cứu sinh Lê Thị Mai thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trịnh Duy Luân và TS. Nguyễn Văn Thủ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện công cuộc Đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và mở cửa thị trường nông thôn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và đô thị hóa đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn châu thổ Sông Hồng. Theo số liệu Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản giai đoạn 1994 - 2001 (theo Quyết định số 34/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), tỷ lệ hộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 1,6% lên 5,8% (tăng gấp ba lần); hộ thương mại - dịch vụ tăng gấp hai lần (từ 6,4%). Riêng tại châu thổ Sông Hồng, hộ thương mại - dịch vụ chiếm tới 50% tổng số hộ phi nông nghiệp. Năm 1994, khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên 81 xã cho thấy nhiều làng nghề thu hút từ 60% đến 90% số hộ tham gia, tạo ra giá trị sản lượng chiếm từ 76% đến 98% tổng giá trị sản lượng toàn làng; tỉnh Nam Định có 86 làng nghề với gần 100.000 lao động thủ công; tỉnh Hà Tây có 73 làng nghề, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 80% năm 1990 xuống 70% năm 1994 và 62,34% năm 1996. Đến năm 2001, 86% số xã, 77% số thôn và 79% số hộ sử dụng điện; 94,5% xã có đường ô tô đến trụ sở; 99,9% xã có trường tiểu học và 84,5% có trường trung học cơ sở.
Về phương diện lưu thông, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VI ngày 09/04/1987) đã xóa bỏ cơ chế mua bán nghĩa vụ, chuyển sang cơ chế hợp đồng mua bán theo giá thỏa thuận và tự do lưu thông hàng hóa. Đến năm 1994, ước tính 40% tổng lượng hàng hóa nông sản và công nghiệp tiêu dùng được lưu chuyển qua mạng lưới chợ nông thôn; số lượng chợ họp theo phiên cố định giảm xuống còn 28,5%, trong khi số chợ họp hàng ngày gia tăng rõ rệt. Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra câu hỏi: Tại sao trong cùng bối cảnh mở cửa kinh tế, chỉ có một số ít chợ nông thôn phát triển mạnh thành trung tâm kinh tế vùng, trung tâm thương mại - dịch vụ và thúc đẩy biến đổi xã hội cộng đồng theo hướng đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh hơn các làng khác? Những yếu tố nào chi phối tiến trình chuyển đổi này? Các nghiên cứu trước đây phần lớn nhìn nhận chợ dưới góc độ kinh tế học thuần túy hoặc mô tả lịch sử, dân tộc học. Khoảng trống nghiên cứu về bản chất xã hội của việc tổ chức thị trường nông thôn và tác động xã hội của chợ dưới góc độ xã hội học kinh tế chính là lý do tác giả triển khai luận án.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Tìm hiểu vai trò của chợ nông thôn và những chủ thể kinh doanh trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn (qua hai vai trò chính: đối với hoạt động sản xuất và đối với sự chuyển đổi xã hội của cộng đồng làng xã).
- Tìm hiểu sự thay đổi trong cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại tại chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng do quá trình mở rộng thị trường, nhận diện các biến đổi trong quan hệ xã hội cộng đồng làng xã trước tác động của chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô.
Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm nhằm chỉ ra:
- Cơ sở kinh tế - xã hội của chợ nông thôn; vai trò của chợ và thương nhân trong đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng làng xã vùng châu thổ Sông Hồng.
- Cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại kinh doanh tại chợ nông thôn; cách thức chủ thể kinh tế tiếp nhận tác động của thị trường và điều chỉnh hành vi kinh tế.
- Xu hướng vận động của chợ nông thôn và tác động của quan hệ thị trường đến biến đổi xã hội nông thôn.
Giả thuyết nghiên cứu
- Các chính sách đổi mới thể chế (Chỉ thị 100 năm 1981, Nghị quyết 10 năm 1988, Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VI năm 1987, thừa nhận kinh tế hộ gia đình) đã giải phóng sức sản xuất, làm thay đổi cách thức tổ chức sản xuất và trao đổi buôn bán, thúc đẩy mạng lưới chợ nông thôn phát triển.
- Kinh tế hộ gia đình tự hạch toán khiến nông dân vừa là người sản xuất vừa là người kinh doanh; quy mô mở rộng dẫn đến nhu cầu vươn ra thị trường ngoài làng, liên kết vùng và quốc tế, thu hút thương nhân bên ngoài, mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa và làm biến đổi xã hội nông thôn.
- Hoạt động thị trường thúc đẩy một số chợ nông thôn vận động theo xu hướng: Chợ $\rightarrow$ Phố chợ $\rightarrow$ Cụm thương mại - dịch vụ / Trung tâm kinh tế vùng / Trung tâm công - thương nghiệp - dịch vụ $\rightarrow$ Thị trấn $\rightarrow$ Đô thị nhỏ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chợ nông thôn và các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội tham gia hoạt động kinh doanh tại chợ (người buôn bán nhỏ, người sản xuất - kinh doanh, cán bộ quản lý chính quyền địa phương).
- Phạm vi không gian: Vùng châu thổ Sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây. Luận án lựa chọn 3 trường hợp khảo sát điển hình:
- Chợ Ninh Hiệp (xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội): Xã ven đô, có nghề truyền thống may mặc, dệt, thuộc da nhân tạo, chế biến thuốc nam, thuốc bắc; phát triển chợ vải và dược liệu quy mô lớn. Dân số năm 2000 là 13.379 người, diện tích tự nhiên 488,86 ha (đất nông nghiệp 472,81 ha, bình quân 1 sào/người năm 1994).
- Chợ Hữu Bằng (xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây): Làng nghề thủ công dệt, mộc, cơ khí; đất canh tác ít (118 ha trên 200 ha tự nhiên, bình quân 72 $\text{m}^2$/người sau cải cách ruộng đất 1957); chợ làng mở rộng thành khu phố chợ kéo dài nối với đường liên huyện 21B.
- Chợ Thổ Tang (xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc): Nằm ở đỉnh tam giác châu thổ; đất pha cát Sông Hồng thâm canh cây màu đạt 7,8 vụ/năm (45 ngày/vụ); đất canh tác 358 ha trên 13.510 nhân khẩu (bình quân 260 $\text{m}^2$/người); phát triển buôn bán nông sản đường dài ngược xuôi và sang Lào, Trung Quốc.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2001 - 2002; số liệu trước năm 1986 được sử dụng để so sánh đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Kinh tế làng xã và mạng lưới phân phối truyền thống:
- Vũ Quốc Thúc (1951) nhận định mạng lưới chợ nông thôn Bắc Bộ hoạt động như các "thị trấn lưu động", đảm đương phân phối 99% sản phẩm trao đổi trong nước; nông dân mua 90% hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất và bán nông sản qua hệ thống chợ này.
- Pierre Gourou (1936) phân tích tính chất phức tạp trong sự tiếp nhận cái mới của nông dân châu thổ Bắc Bộ và ghi nhận sự tồn tại của các làng buôn chuyên nghiệp (như làng Đa Ngưu).
-
Cấu trúc liên làng, tính mở của làng xã và mạng lưới kinh tế:
- Các học giả quốc tế nghiên cứu cấu trúc làng xã châu Á chỉ ra chợ thường họp tại vùng giáp ranh giữa các làng, là không gian liên lạc kinh tế duy nhất phá vỡ tính tự cấp tự túc khép kín.
- Hà Văn Tấn nhấn mạnh cách tiếp cận liên làng, siêu làng; khẳng định các làng thủ công và làng thương nghiệp có mối liên hệ ngoài cấu trúc làng xã mạnh hơn nhiều so với làng thuần nông; trong đó nhóm thương nhân và thợ thủ công giữ vai trò kết nối chủ đạo.
- Polly Hill đề xuất tiếp cận cấu trúc đời sống kinh tế nông thôn thông qua chế độ sở hữu đất đai, phương thức quản lý lao động, sử dụng vốn và tập quán kinh tế dân gian (economic folklore).
-
Lý thuyết về hành vi kinh tế của nông dân:
- James C. Scott với hướng tiếp cận "kinh tế đạo đức" (moral economy) cho rằng nông dân hành động theo nguyên tắc "an toàn trên hết", ưu tiên hạn chế rủi ro hơn là tối đa hóa thu nhập bình quân.
- Samuel L. Popkin phản biện bằng cách tiếp cận "người nông dân duy lý" (rational peasant), nhấn mạnh sự tính toán chi phí - lợi ích cá nhân và các tương tác mang tính chiến lược (được Bùi Quang Dũng phân tích, tổng hợp).
-
Lịch sử, dân tộc học và các làng buôn cổ truyền:
- Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Đức Nghinh, Phạm Thị Hoà, Vũ Hoàng Tuyên, Thành Thế Vĩ nghiên cứu hoạt động buôn bán nhỏ, chạy chợ từ thế kỷ XV; khảo sát các làng buôn truyền thống như Đa Ngưu (Hưng Yên), Báo Đáp (Nam Định), Đan Loan (Hải Dương), Phù Lưu (Bắc Ninh). Điểm nổi bật là người phụ nữ đóng vai trò chủ đạo trong buôn bán nhỏ nhưng không tách rời sản xuất nông nghiệp.
-
Xã hội học thương nghiệp nông thôn thời kỳ Đổi mới:
- Bùi Quang Dũng thực hiện khảo sát tại 5 chợ thuộc tỉnh Bắc Giang (chợ Mọc, chợ Neo, chợ Vôi, chợ An Châu, chợ Cầu Vồ) với 105 hộ kinh doanh; đưa ra nhận định thực chất của phát triển nông thôn là sự thâm nhập của quan hệ hàng hóa - tiền tệ; phân định vai trò giới: phụ nữ nắm giữ thương nghiệp nhỏ, nam giới phụ trách ngành hàng kỹ thuật.
- Rolf Jensen và Donald M. Peppard Jr. (Đại học Connecticut, tháng 3/2000) khảo sát 379 người bán hàng rong tại Hà Nội (82,6% là dân di cư từ nông thôn, phụ nữ chiếm đa số tuyệt đối, chỉ có 3 nam giới; 75% vẫn tham gia làm nông nghiệp quanh năm với tần suất 28 ngày/tháng; thu nhập trung bình 3.633.000 đồng/năm).
- Các công trình nghiên cứu nông thôn của Tô Duy Hợp, Nguyễn Đức Truyến, Mai Văn Hai, Lê Mạnh Năm, Tương Lai, Vũ Mạnh Lợi, Nguyễn Tuấn Anh, Vũ Tuấn Huy.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống: Phân tích cấu trúc xã hội của các quan hệ thương mại tại chợ nông thôn trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế; lý giải hành vi thích ứng của chủ thể kinh tế dưới tác động đan xen của thể chế vĩ mô và chuẩn mực làng xã; mô hình hóa quy luật vận động không gian - xã hội của chợ nông thôn thành các cụm kinh tế dịch vụ vùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ khái niệm
Luận án vận dụng hướng tiếp cận xã hội học kinh tế, kết hợp các lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết phân công lao động xã hội: Herbert Spencer, Émile Durkheim và Karl Marx khẳng định sự phát triển của phân công lao động là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa, dẫn đến sự tách biệt giữa nông nghiệp với công - thương nghiệp, giữa nông thôn và thành thị.
- Lý thuyết hành động xã hội và kinh tế: Adam Smith (động lực lợi ích cá nhân và cơ chế trao đổi); Max Weber (hành động xã hội định hướng theo hành vi của người khác và mục tiêu); Vilfredo Pareto (phân biệt hành động logic và phi logic, nhấn mạnh sự can thiệp của các yếu tố tâm lý, chuẩn mực); Mark Granovetter (tính gắn kết xã hội - embeddedness của hành vi kinh tế trong mạng lưới quan hệ).
- Lý thuyết lựa chọn hợp lý: Milton Friedman và Michael Hechter (hành động hướng đích bị giới hạn bởi năng lực cá nhân và thể chế xã hội); khái niệm chi phí cơ hội trong kinh tế vi mô.
- Khái niệm continuum của UNCRD: Không gian kinh tế - xã hội hỗn hợp nối tiếp giữa nông thôn, nông thị và đô thị.
- Hệ thống mốc thể chế: Chỉ thị 100-CT/TW (1981), Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VI (1987), Nghị quyết 10-NQ/TW (1988), Luật Đất đai (1993), Luật Hợp tác xã (1996), Luật Doanh nghiệp (1999).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) với các kỹ thuật khảo sát xã hội học định tính và định lượng:
| Phương pháp thu thập |
Quy mô và cơ cấu mẫu |
Đặc điểm đối tượng |
| Phỏng vấn bằng bảng hỏi |
179 người (54 nam, 125 nữ) |
Phân bố theo độ tuổi: 20 - 39 tuổi (50 người: 15 nam, 35 nữ); 40 - 65 tuổi (125 người: 38 nam, 87 nữ); 65 - 78 tuổi (4 người: 1 nam, 3 nữ). |
| Phỏng vấn sâu |
41 người (19 nam, 22 nữ) |
- Buôn bán nhỏ: 11 người (11 nữ) - Dịch vụ: 7 người (2 nam, 5 nữ) - Chủ sản xuất - kinh doanh: 10 người (7 nam, 3 nữ) - Cán bộ quản lý: 13 người (10 nam, 3 nữ) |
| Thảo luận nhóm tập trung |
17 cuộc với 38 người tham gia |
- Kinh doanh vải tại chợ: 2 cuộc (5 người) - Kinh doanh dược liệu: 2 cuộc (4 người) - May mặc: 2 cuộc (4 người) - Dịch vụ: 2 cuộc (4 người) - Kinh doanh vải Việt - Trung: 1 cuộc (3 người) - Sản xuất - kinh doanh đồ gỗ: 3 cuộc (6 người) - Thu gom, buôn đường dài nông sản: 3 cuộc (8 người) - Cơ khí: 2 cuộc (4 người) |
| Phương pháp khác |
Quan sát thực địa, tài liệu thứ cấp, chụp ảnh |
Sử dụng 42 bức ảnh tư liệu về hoạt động làng nghề, phố chợ, giao thương tại Ninh Hiệp, Hữu Bằng, Thổ Tang; khai thác niên giám thống kê và văn bản quy phạm pháp luật. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về chợ nông thôn, cấu trúc làng xã truyền thống và sự vận động kinh tế nông thôn ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Tác giả phân tích các luận điểm về "kinh tế đạo đức" của James C. Scott và "kinh tế duy lý" của Samuel L. Popkin, từ đó định hình cách tiếp cận xã hội học kinh tế.
Chương này xây dựng khung phân tích dựa trên sự tương tác giữa 4 yếu tố:
- Các quá trình kinh tế vĩ mô (thể chế Đổi mới, chính sách lưu thông).
- Những hạn chế của hành vi kinh tế (năng lực chủ thể, chuẩn mực văn hóa).
- Vai trò của các chủ thể kinh tế (nông dân, thương nhân, cán bộ quản lý).
- Tác động lan tỏa của kinh tế đến biến đổi cấu trúc xã hội nông thôn.
Tác giả xác lập hệ khái niệm công cụ: chợ nông thôn, thị trường, thương nhân, nông thôn, nông nghiệp, nông dân và khung thời gian Đổi mới từ năm 1986.
Chương 2: Chợ nông thôn trong cấu trúc kinh tế - xã hội cộng đồng làng xã châu thổ Sông Hồng
Chương 2 phân tích nguồn gốc hình thành, các loại hình chợ (theo thời gian họp, địa vực, quy mô hành chính, tính chất trao đổi) và nét văn hóa kinh doanh truyền thống của cư dân nông thôn đồng bằng Sông Hồng.
Tác giả khảo sát chi tiết thực trạng 3 chợ nghiên cứu điển hình:
| Tiêu chí |
Chợ Thổ Tang (Vĩnh Phúc) |
Chợ Hữu Bằng (Hà Tây) |
Chợ Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) |
| Vị trí & Địa lý |
Đỉnh tam giác châu thổ, vùng trung du, thuận lợi trung chuyển hàng hóa ngược - xuôi. |
Nằm sâu trong nội đồng, xa quốc lộ, đất nông nghiệp rất hẹp (118 ha/200 ha tự nhiên). |
Xã ven đô, xa quốc lộ 1A và trung tâm huyện; diện tích tự nhiên 488,86 ha. |
| Đặc thù sản xuất |
Đất pha cát thâm canh cây màu 7,8 vụ/năm (45 ngày/vụ); năng suất lúa 11,7 tấn/ha; thu từ màu năm 2001 đạt 13,277 tỷ đồng trên 578 ha. |
Phát triển làng nghề thủ công: mộc dân dụng, cơ khí chế tạo máy, chế biến lâm sản sau khi HTX dệt giải thể (1986). |
Làng nghề may mặc gia công, dệt, làm đồ giả da, chế biến dược liệu (thuốc nam, thuốc bắc tập trung tại xóm 8). |
| Đặc điểm thị trường |
Thu gom nông sản cung cấp miền núi, nhập lâm sản về xuôi; buôn bán đường dài sang Lào, Trung Quốc. Quỹ tín dụng nhân dân lãi thực 74 triệu đồng (2001). |
Phát triển thành khu phố chợ kéo dài nối đường liên huyện 21B; buôn bán gỗ, giao thương hàng hóa tiểu ngạch với Trung Quốc. |
Trung tâm bán buôn vải và dược liệu lớn; nhập khẩu vải từ Trung Quốc, Hồng Kông; xuất khẩu nông lâm sản sang Đông Âu, Nhật Bản. |
| Thu nhập & Quản trị |
Thu nhập xã năm 2001 đạt 53,5 tỷ đồng; hộ vận tải lãi 500 triệu đồng/năm. |
Thu hút thợ, thương nhân nhiều nơi; công tác quản trị cơ sở còn yếu, nảy sinh vấn đề môi trường, đất đai. |
Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền xã và hộ kinh doanh; hạ tầng phố chợ phát triển nhanh. |
Chương này chỉ ra các yếu tố đưa chợ phát triển thành cụm thương mại - dịch vụ gồm: truyền thống buôn bán và tay nghề thủ công của cư dân; sự linh hoạt trong khai thác lợi thế vị trí; vai trò điều tiết của chính quyền cơ sở và sự hình thành hệ thống hạ tầng tín dụng, giao thông.
Chương 3: Vai trò của chợ nông thôn trong đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng làng xã
Chương 3 đi sâu phân tích 3 khía cạnh tác động xã hội của chợ nông thôn:
-
Khía cạnh giới trong hoạt động thương nghiệp:
- Phụ nữ giữ vai trò chủ lực trong khu vực buôn bán nhỏ, chạy chợ truyền thống, duy trì sự gắn kết giữa công việc đồng áng, chăm sóc gia đình và kinh doanh nông sản.
- Nam giới chiếm ưu thế trong các lĩnh vực kinh doanh quy mô lớn, thương mại kỹ thuật, xưởng cơ khí, chế tác đồ gỗ, vận tải đường dài và giao dịch tiểu ngạch xuyên biên giới.
-
Tác động đến sản xuất hàng hóa:
- Chợ và mạng lưới thương nhân mở rộng kênh tiêu thụ, kích thích thâm canh nông nghiệp (như mở rộng diện tích trồng màu vụ đông và cây giống trái vụ tại Thổ Tang lên giá trị 65 - 70 triệu đồng/ha).
- Thúc đẩy chuyên môn hóa các làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại Hữu Bằng và Ninh Hiệp, hình thành các chuỗi may gia công, sản xuất đồ gỗ nội thất, chế biến dược liệu theo đơn đặt hàng lớn.
-
Chuyển đổi cấu trúc xã hội và lối sống cộng đồng:
- Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu lao động từ thuần nông sang phi nông nghiệp (thương nhân, thợ thủ công, công nhân nông nghiệp, nông dân kiêm nghiệp).
- Làm thay đổi diện mạo không gian: xuất hiện hình thái "phố trong làng", các dãy cửa hàng giới thiệu sản phẩm, dịch vụ sửa chữa cơ khí, tiệm vàng, dịch vụ bưu điện, phòng khám răng tư nhân, tiệm cho thuê áo cưới.
- Thâm nhập các chuẩn mực lối sống đô thị, thay đổi định hướng giá trị nghề nghiệp và phương thức tiêu dùng của người dân nông thôn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng tiếp cận xã hội học kinh tế để nghiên cứu sự chuyển đổi của nông thôn châu thổ Sông Hồng thông qua thiết chế chợ và hành vi của thương nhân.
- Khẳng định thị trường nông thôn và sự phân công lao động xã hội là động lực cấu trúc lại các mối quan hệ xã hội làng xã, phá vỡ tính khép kín truyền thống để thiết lập các mối liên hệ liên làng, liên vùng và quốc tế.
- Làm rõ tính chất đan xen giữa hành vi tối đa hóa lợi ích kinh tế với sự chi phối của các yếu tố xã hội trung gian (chuẩn mực văn hóa làng quê, quan hệ họ hàng, vai trò giới).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khái quát hóa mô hình chuyển dịch không gian - kinh tế của các điểm nút thị trường nông thôn:
$$\text{Chợ} \longrightarrow \text{Phố chợ} \longrightarrow \text{Cụm TM-DV / Trung tâm kinh tế vùng} \longrightarrow \text{Thị trấn} \longrightarrow \text{Đô thị nhỏ}$$
- Nhận diện 3 mô hình chuyển đổi thực tế: mô hình kết hợp nông nghiệp thâm canh cao với thương mại đường dài (Thổ Tang); mô hình làng nghề gỗ - cơ khí tự phát gắn với phố chợ (Hữu Bằng); mô hình làng nghề may mặc - dược liệu chuyên doanh gắn với quản trị công hiệu quả (Ninh Hiệp).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Quy hoạch mạng lưới chợ nông thôn đồng bộ với quy hoạch không gian làng nghề, nâng cấp hạ tầng giao thông và dịch vụ bưu chính - viễn thông.
- Tăng cường năng lực quản trị của chính quyền cấp xã trong việc xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, quản lý quỹ đất công và trật tự xây dựng phố chợ.
- Đa dạng hóa các kênh tín dụng nông thôn (nhân rộng mô hình Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động hiệu quả như tại Thổ Tang).
- Phổ biến kiến thức pháp luật kinh doanh, hỗ trợ thông tin thị trường cho thương nhân và các chủ hộ sản xuất - kinh doanh cá thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án dựa trên dữ liệu thu thập từ 3 nghiên cứu trường hợp cụ thể (chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang), do đó tính đại diện thống kê cho toàn thể mạng lưới chợ nông thôn vùng châu thổ Sông Hồng còn có những giới hạn nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành các cuộc điều tra xã hội học trên quy mô mẫu lớn hơn, mở rộng phạm vi khảo sát sang nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau của đồng bằng Bắc Bộ để tiếp tục kiểm chứng và làm sâu sắc thêm các xu hướng chuyển đổi xã hội nông thôn dưới tác động của thị trường.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Xã hội học, Xã hội học kinh tế, Xã hội học nông thôn, Nhân học kinh tế và Kinh tế phát triển.
- Cán bộ quản lý nhà nước, chuyên viên hoạch định chính sách thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương và chính quyền địa phương các cấp vùng đồng bằng Sông Hồng.
- Nội dung giá trị: Khung lý thuyết phân tích hành vi kinh tế trong bối cảnh thể chế chuyển đổi; hệ thống dữ liệu thực nghiệm về cơ cấu hộ, việc làm, thu nhập và quy trình vận động từ chợ làng thành trung tâm kinh tế dịch vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn ba chợ Ninh Hiệp, Hữu Bằng và Thổ Tang làm địa bàn nghiên cứu trường hợp?
Ba địa bàn này đại diện cho các mô hình kinh tế nông thôn điển hình của đồng bằng Sông Hồng: Thổ Tang đại diện cho vùng thuần nông chuyển sang thâm canh nông sản hàng hóa kết hợp buôn bán đường dài; Hữu Bằng đại diện cho làng nghề thủ công truyền thống (mộc, dệt, cơ khí) kết hợp thương mại; Ninh Hiệp đại diện cho làng nghề may mặc, chế biến dược liệu ven đô có hoạt động buôn bán quy mô lớn và giao thương quốc tế. Cả ba nơi đều có sự chuyển dịch lao động mạnh sang phi nông nghiệp và hình thành phố chợ sầm uất.
2. Khảo sát thực địa của luận án được thực hiện với quy mô mẫu như thế nào?
Mẫu khảo sát gồm: phỏng vấn bằng bảng hỏi 179 người (54 nam, 125 nữ thuộc các nhóm tuổi từ 20 đến 78); phỏng vấn sâu 41 người (19 nam, 22 nữ thuộc 4 nhóm: buôn bán nhỏ, dịch vụ, chủ sản xuất - kinh doanh, cán bộ quản lý); thảo luận nhóm tập trung 17 cuộc với 38 người tham gia thuộc 8 ngành nghề kinh doanh; kết hợp quan sát thực địa và phân tích 42 bức ảnh tư liệu.
3. Hoạt động thâm canh nông nghiệp tại Thổ Tang đạt được kết quả cụ thể nào năm 2001?
Nhờ khai thác đất pha cát Sông Hồng và áp dụng giống trái vụ, Thổ Tang đạt tần suất 7,8 vụ/năm (trung bình 45 ngày/vụ màu). Giá trị thu nhập từ 578 ha đất trồng màu năm 2001 đạt 13,277 tỷ đồng (bình quân 65 triệu đồng/ha màu). Năng suất lúa bình quân đạt 11,7 tấn/ha. Toàn xã đạt tổng thu nhập 53,5 tỷ đồng trong năm 2001.
4. Phân công lao động theo giới trong hoạt động kinh doanh tại các chợ thể hiện như thế nào?
Phụ nữ chiếm số lượng áp đảo trong hoạt động buôn bán nhỏ lẻ, kinh doanh hàng tiêu dùng hàng ngày tại chợ và chạy chợ nông sản; nam giới tập trung vào các công việc đòi hỏi kỹ thuật, quản lý cơ sở sản xuất, cơ khí, kinh doanh đồ gỗ, vận tải hàng hóa đường dài và thực hiện các hợp đồng buôn bán quy mô lớn.
5. Những chính sách thể chế nào của thời kỳ Đổi mới tác động trực tiếp đến sự phát triển của chợ nông thôn?
Các chính sách mang tính quyết định gồm: Chỉ thị 100-CT/TW (1981), Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VI về lưu thông phân phối (1987) bãi bỏ cơ chế thu mua nghĩa vụ, Nghị quyết 10-NQ/TW (1988) thừa nhận kinh tế hộ tự chủ, cùng hệ thống Luật Đất đai (1993), Luật Hợp tác xã (1996) và Luật Doanh nghiệp (1999).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Mai đã phân tích bản chất xã hội của chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế thời kỳ Đổi mới. Bằng việc kết hợp lý thuyết xã hội học kinh tế với dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại Ninh Hiệp, Hữu Bằng và Thổ Tang, công trình đã làm rõ vai trò của thương nhân, sự phân công lao động theo giới và cơ chế thị trường trong việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa. Luận án khái quát hóa quy luật chuyển đổi không gian từ chợ truyền thống thành các cụm thương mại - dịch vụ và đô thị nhỏ tại nông thôn. Đây là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo cho nghiên cứu xã hội học nông thôn và công tác hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam.