CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Một số vấn đề cơ bản về lao động và xuất khẩu lao động 1. Lao động và đặc điểm của lao động 1. Nguồn lao động Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nguồn lao động bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, độ tuổi từ 18 đến 60 ( không bị khiếm khuyết hay dị tật bẩm sinh), tức là có sức lao động.
Bởi sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cá thể và được vận dụng để tạo ra một sản phẩm nào đó. Với khía cạnh là một yếu tố phát triển của KT- XH, nguồn lao động là khả năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động (1) có khả năng lao động. Ngoài ra còn có thể hiểu nguồn lao động là tập hợp cá nhân- những con người có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Lao động Lao động là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích bản thân.
Lao động còn là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất. Thị trường lao động Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao động giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người sử dụng sức lao động đó. Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động của quy chế quản lý của nền kinh tế thị trường. 3 Một thị trường lao động tốt là thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứng với lượng cung về lao động.
- Cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được. Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra. Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động (tiền lương), khi giá cả tăng (hoặc giảm) sẽ làm cho cầu về lao động giảm (hoặc tăng). - Cung về lao động là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận được ở mỗi mức gia nhất định.
Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao động mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt ra. Cung lao động có quan hệ tỉ lệ thuận với giá cả. Khi giá cả tăng, lượng cung lao động sẽ tăng và ngược lại. Để phân loại thị trường lao động, tuỳ theo đối tượng nghiên cứu mà người ta chia ra thành: thị trường lao động trong nước; thị trường lao động quốc tế; thị trường lao động khu vực; thị trường lao động nông thôn; thị trường lao động thành thị; thị trường lao động có trình độ chuyên môn; thị trường lao động phổ thông; thị trường lao động chất xám; v.
Đặc điểm của lao động. Nguồn lao động( sức lao động) luôn gắn liền với con người, vì vậy nguồn lao động có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất là, số lượng lao động tăng nhanh, có sự khác biệt chủ yếu giữa sự thách thức phát triển mà các nước đang phát triển gặp phải so với các nước phát triển là sự gia tăng chưa từng thấy ở lực lượng lao động. Ở hầu hết các nước, trung bình mỗi năm số người tìm kiếm việc làm tăng 2%, sự gia tăng nguồn lao động liên quan chặt chẽ với việc hia tăng dân số. Dự báo ở nước ta mỗi năm bình quân tăng thêm hơn 1 triệu lao động dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm.
4 Thứ hai là, ở các nước đang phát triển thì phần lớn lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất về lao động ở các nước đang phát triển là đa số lao động làm nông nghiệp. Ở Việt Nam, lao động nông nghiệp chiếm hơn 70% tổng số lao động. Loại hình công việc này mang tính phổ biến ở các nước nghèo.
Xu hướng chung là lao động trong nông nghiệp giảm dần trong khi lao động trong công nghiệp và dịch vụ lại tăng. Mức độ chuyển dịch này tuỳ theo mức độ phát triển của nền kinh tế. Thứ ba là, trình độ chuyên môn của lao động còn thấp. Ở Việt Nam, điều kiện giảng dạy còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng khi các lao động đi xin việc, trình độ chuyên môn hạn chế nên gặp rất nhiều khó khăn.
Xuất khẩu lao động 1. Khái niệm về xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là hoạt động mua-bán, trao đổi hàng hoá sức lao động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài. Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là chính phủ nước ngoài hay cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước. Hàng hoá sức lao động nội địa: muốn nói tới lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài.
Hoạt động mua-bán : thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền dưới hình thức tiền lương (tiền công). Còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình. Nhưng hoạt động mua-bán này có một điểm đặc biệt đáng lưu ý là: quan hệ mua-bán chưa thể chấm dứt ngay được vì sức lao động không thể tách rời người lao động. Quan hệ này khởi đầu cho một quan hệ mới-quan hệ lao 5 động.
Và quan hệ lao động sẽ chỉ thực sự chấm dứt khi hợp đồng lao động ký kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xoá bỏ hiệu lực theo thoả thuận của hai bên. Vai trò của xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một một trong những hoạt động để đưa đất nước hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Vì vậy, XKLĐ có những vai trò nhất định, cụ thể là: Đối với sự phát triển kinh tế - Xã hội. Với tư cách là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, cần phải được xem xét, đánh giá các mặt hiệu quả tích cực mà xuất khẩu lao động đã mang lại.
Một khi nhận thức đúng đắn về hiệu quả của xuất khẩu lao động, cùng với việc vạch ra các chính sách, xác định đó là là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá hiện trạng và chỉ ra các phương hướng cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. - Góp phần tạo việc làm cho người lao động. Đối với tình hình kinh tế vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì việc làm vẫn đang là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia. Tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng cửa hàng loạt đã khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Chính vì thế, xuất khẩu lao động đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết vấn đề này. - Góp phần tăng thu nhập cho người lao động và quốc gia. Người lao động khi XKLĐ được làm việc trong môi trường quốc tế, hầu hết những công việc này đều có thu nhập cao. Vì vậy, XKLĐ giúp tăng thu nhập cho người lao động, từ đó tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia cũng như thu hút được một số lượng đáng kể nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA).
- Nâng cao trình độ tay nghề cho lao động của các quốc gia XKLĐ Khi tham gia vào XKLD, các lao động thường được đào tạo nghề, có cơ hội trau dồi những kiến thức, tạo lập tư duy cho mỗi lao động. 6 - Phát triển mối quan hệ về kinh tế giữa các quốc gia, hợp tác tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đối với quốc gia nhập khẩu lao động. Đối với quốc gia nhập khẩu lao động, đây chủ yếu là những nước phát triển, với mong muốn bổ sung số lượng lao động trong nước, làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Vì vậy, nhập khẩu các lao động từ những nước đang phát triển giúp cho những nước này có thể giải quyết vấn đề nguồn nhân lực tại các nhà máy. Dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo, ông cho rằng: “Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào TMQT để tạo ra lợi ích của chính mình”, nghĩa là một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác, và có thể áp dụng nhiều phương pháp để có thể hội nhập kinh tế quốc tế. Và đối với các nước phát triển thì nhập khẩu lao động là một hoạt động gia nhập TMQT. Đối với quốc gia xuất khẩu lao động Đối với các quốc gia xuất khẩu lao động, xuất khẩu tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có 4 điều kiện: nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật. Song không phải quốc gia nào cũng có đủ 4 điều kiện đó và để giải quyết tình trạng này buộc họ phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong nước chưa có đủ khả năng đáp ứng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có đủ ngoại tệ cho việc nhập khẩu này. Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ thì không ai có thể phủ nhận được.
Nhưng khi sử dụng những nguồn vốn này thì những nước đi vay phải chấp nhận những thiệt thòi nhất định và dù bằng cách này hay cách khác cũng phải hoàn lại vốn cho nước ngoài. Bởi vậy nguồn vốn quan trọng nhất mà mỗi quốc gia có thể trông chờ là vốn thu được từ hoạt 7 động xuất khẩu.