Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn trong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2000-2015.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

147
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn và chủ trương của Đảng bộ

1.2. Sự chỉ đạo thực hiện hóa chủ trương của Đảng bộ

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Những yêu cầu mới đặt ra và chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo từ năm 2010 đến năm 2015

2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.1. Nhận xét chung

3.2. Các kinh nghiệm chủ yếu

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách xóa đói giảm nghèo tại Lạng Sơn 2000 2015

Chính sách xóa đói giảm nghèo (XĐGN) tại Lạng Sơn từ năm 2000 đến 2015 đã được triển khai với nhiều chương trình và giải pháp khác nhau. Mục tiêu chính của chính sách này là giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn này, Lạng Sơn đã nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ và các tổ chức quốc tế nhằm thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện chính sách XĐGN vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc duy trì sự bền vững của các hộ đã thoát nghèo.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, với nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao, chủ yếu là các hộ dân tộc thiểu số. Đặc điểm địa lý và văn hóa của tỉnh đã ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chính sách XĐGN. Các chương trình hỗ trợ cần phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương để đạt hiệu quả cao nhất.

1.2. Mục tiêu và phương hướng chính sách XĐGN

Mục tiêu chính của chính sách XĐGN tại Lạng Sơn là giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% vào năm 2015. Để đạt được mục tiêu này, tỉnh đã đề ra nhiều phương hướng như phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng giáo dục và y tế, đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện các chương trình phát triển.

II. Những thách thức trong việc thực hiện chính sách XĐGN tại Lạng Sơn

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện chính sách XĐGN, nhưng Lạng Sơn vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Tình trạng tái nghèo, sự phân hóa giàu nghèo gia tăng, và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội còn hạn chế là những vấn đề cần được giải quyết. Ngoài ra, việc quản lý và phân bổ nguồn lực cho các chương trình XĐGN cũng gặp nhiều khó khăn.

2.1. Tình trạng tái nghèo và phân hóa giàu nghèo

Tình trạng tái nghèo là một trong những thách thức lớn nhất trong chính sách XĐGN tại Lạng Sơn. Nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo nhưng lại rơi vào tình trạng nghèo đói khi gặp thiên tai hoặc rủi ro trong sản xuất. Sự phân hóa giàu nghèo cũng gia tăng, tạo ra khoảng cách lớn giữa các nhóm dân cư.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ xã hội

Nhiều hộ nghèo tại Lạng Sơn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế và tín dụng. Điều này làm giảm khả năng cải thiện đời sống và thoát nghèo bền vững. Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao khả năng tiếp cận cho các hộ nghèo.

III. Các giải pháp chính trong chính sách XĐGN tại Lạng Sơn

Để thực hiện hiệu quả chính sách XĐGN, Lạng Sơn đã triển khai nhiều giải pháp như phát triển kinh tế địa phương, hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân, và tăng cường giáo dục. Các chương trình này không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống.

3.1. Phát triển kinh tế địa phương

Phát triển kinh tế địa phương là một trong những giải pháp quan trọng trong chính sách XĐGN. Tỉnh đã khuyến khích các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân. Các dự án phát triển hạ tầng cũng được ưu tiên để kết nối các vùng khó khăn với thị trường.

3.2. Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề

Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề cho người dân là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực sản xuất. Các chương trình đào tạo nghề đã được triển khai nhằm giúp người dân có kỹ năng cần thiết để tham gia vào thị trường lao động.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của chính sách XĐGN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách XĐGN tại Lạng Sơn đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, nhiều hộ gia đình đã cải thiện được đời sống. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để đảm bảo sự bền vững trong công tác XĐGN.

4.1. Thành tựu đạt được trong công tác XĐGN

Chính sách XĐGN đã giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo và cải thiện đời sống. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 30% xuống còn 15% trong giai đoạn 2000-2015. Nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai hiệu quả, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong đời sống người dân.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy, việc tham gia của cộng đồng là rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách XĐGN. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và tổ chức xã hội để đảm bảo hiệu quả của các chương trình.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chính sách XĐGN tại Lạng Sơn

Chính sách XĐGN tại Lạng Sơn đã có những bước tiến đáng kể trong giai đoạn 2000-2015. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu bền vững, cần tiếp tục cải thiện các chương trình hỗ trợ, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và nâng cao năng lực quản lý. Hướng đi tương lai cần tập trung vào phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro cho các hộ nghèo.

5.1. Định hướng phát triển bền vững trong chính sách XĐGN

Định hướng phát triển bền vững trong chính sách XĐGN là cần thiết để đảm bảo rằng các hộ nghèo có thể duy trì cuộc sống ổn định. Cần có các chương trình hỗ trợ dài hạn và bền vững để giúp người dân tự lực vươn lên.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong chính sách

Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện chính sách XĐGN sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình. Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình ra quyết định và thực hiện các chương trình phát triển.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh lạng sơn lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2015 luận văn nhân văn khác 602203

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo từ năm 2011 đến năm 2015. Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. CHƢƠNG 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 1.

Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn và chủ trƣơng của Đảng bộ 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo xóa đói giảm nghèo * Điều kiện tự nhiên và kinh tếxã hội Vị trí địa lý: Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam; cách thủ đô Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt; phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Bắc Cạn. Theo chiều Bắc Nam 22o27’- 21o19’ vĩ Bắc; chiều Đông Tây 106o06 - 107021’ kinh Đông[64; tr. Địa hình Lạng Sơn phổ biến là núi thấp và đồi, ít núi trung bình và không có núi cao.

Độ cao trung bình là 252m so với mực nước biển; Nơi thấp nhất là 20m ở phía Nam huyện Hữu Lũng, trên thung lũng sông Thương; Nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè (thuộc khối núi Mẫu Sơn) cao 1.541m so với mặt biển. Hướng địa hình rất đa dạng và phức tạp: Hướng Tây Bắc - Đông Namthể hiện ở máng trũng Thất Khê - Lộc Bình, trên đó có thung lũng các sông Bắc Khê, Kỳ Cùng và Tiên Yên (Quảng Ninh) và dãy hồ Đệ Tam đã được lấp đầy trầm tích Đệ Tam và Đệ Tứ, tạo thành các đồng bằng giữa núi có giá trị đối với ngành nông nghiệp của tỉnh như Thất Khê, Na Dương, Bản 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngà; Hướng Đông Bắc - Tây Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Hữu Lũng, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan và phần lớn huyện Văn Lãng, hướng này cũng thấy ở núi đồi huyện Cao Lộc (các xã Lộc Yên, Thanh Lòa và Thạch Đạn); Hướng Bắc Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Tràng Định, Bình Gia và phần phía Tây huyện Văn Lãng; Hướng Tây Đông thể hiện ở hướng của quần sơn Mẫu Sơn với khoảng 80 ngọn núi. Đất đai: Theo thống kê (10/1995), diện tích đất tự nhiên là 818.725ha, trong đó: đất nông nghiệp là 64.635,01ha (chiếm 21,08%); đất chuyên dùng là 10.787 ha (chiếm 1,33%); đất ở là 4.611,48 ha (chiếm 0,56%); đất chưa sử dụng và các loại đất khác là 565. Đất đai Lạng Sơn được chia thành 7 vùng với 16 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng gồm 43 loại đất khác nhau phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau [64; tr.

Khoáng sản: Trong địa phận tỉnh Lạng Sơn, nhóm khoáng sản kim loại gồm có kim loại đen (sắt, man-gan), kim loại màu (nhôm, quặng bô-xít, quặng alít, đồng, chì, kẽm), kim loại quý (vàng) và kim loại hiếm (thiếc, mô- líp-đen, van-an-đi, thủy ngân); khoáng sản phi kim loại gồm có khoáng sản nhiên liệu (than nâu, than bùn); khoáng sản dùng làm nguyên liệu áp quang và áp điện (thạch anh kỹ thuật); khoáng sản dùng làm nguyên liệu và phân bón; khoáng sản dùng làm vật liệu xây dựng [64; tr. Khí hậu: Lạng Sơn mang tính điển hình của khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 17 - 220C, có tháng lạnh nhất có thể giảm xuống 50C, có lúc 00C hoặc dưới 00C. Nằm ở phần cực bắc của đới vĩ độ thấp gần giáp chí tuyến bắc, giữa các vĩ độ 21 019’ và 22027’ vĩ bắc, và giữa 1060 06’ và 107021’ kinh Đông nên Lạng Sơn có nguồn bức xạ phong phú, cho phép các loại cây trồng vật nuôi bốn mùa sinh sôi nảy nở; tuy 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên Lạng Sơn lại nằm ở cửa ngõ đón gió mùa mùa đông, nơi có gió mùa cực đới đến sớm nhất và kết thúc muộn nhất ở miền Bắc nước ta nên có mùa đông lạnh [64; tr. Độ ẩm trung bình năm của không khí ở Lạng Sơn phổ biến là từ 80 - 85%, thấp hơn nhiều vùng khác ở nước ta.

Ít có sự chênh lệch về độ ẩm tương đối giữa các vùng và giữa các độ cao trong tỉnh. Lượng mưa: Lạng Sơn nằm ở khu vực Đông Bắc, ít mưa của vùng khí hậu miền Bắc; lượng mưa trung bình năm là 1. Nơi duy nhất có lượng mưa trên 1.600mm là vùng núi cao Mẫu Sơn (2.589mm); tại Lạng Sơn có Na Sầm (1.118 mm) và Đồng Đăng (1.100mm) là những trung tâm khô hạn của miền Bắc [64; tr. Sông ngòi: Chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm trong vùng đất dốc thuộc khu miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn có mạng lưới sông ngòi khá phong phú.

Mật độ mạng lưới sông ở đây dao động trung bình từ 0,6 đến 1,2/km2. So với mật độ sông suối trung bình của cả nước là 0,6/km2 thì mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại từ trung bình đến khá dày. Lạng Sơn có 5 sông chính độc lập, đó là sông Kỳ Cùng, Sông Thương, Sông Lục Nam, sông Tiên Yên- Ba Chẽ (hay Nậm Luổi - Đồng Quy) và sông Nà Lang. Về kinh tế: Những năm qua, kinh tế của tỉnh có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 đạt 10,04%, năm 2006 đạt 10,34%, năm 2007 tăng trưởng kinh tế đạt 11,58%.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: (năm 2006) nông lâm nghiệp là 40,38%, công nghiệp-xây dựng 21,14%, thương mại- dịch vụ 38,48%; năm 2007 nông lâm nghiệp là 38,9%, công nghiệp-xây dựng 21,8%, thương mại- dịch vụ 39,3% [64; tr. Lĩnh vực nông lâm nghiệp - nông thôn: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 đạt 4,75%; năm 2007 là 8,25%. Sản lượng 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lương thực bình quân hàng năm là 250.000 tấn, năm 2007 ước đạt 280.Cơ cấu nông nghiệp và nông thôn có bước chuyển dịch tích cực trên cơ sở khai thác và phát huy lợi thế kinh tế đồi rừng để phát triển hàng hoá, đa dạng hoá ngành nghề, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên đầu tư, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên, các dịch vụ sản xuất ngày càng được mở rộng và phát triển.

Tỉ lệ che phủ rừng năm 2006 là 43,06%, năm 2007 là 44,4%. Ngành công nghiệp: Tỉnh chưa có cơ sở sản xuất lớn, một số sản phẩm chủ yếu là gạch nung; khai thác đá; quặng sắt; bô-xít,; lắp ráp; sửa chữa cơ khí; chế biến lâm sản…Một số cơ sở công nghiệp như: Nhà máy nhiệt điện Na Dương (công suất 100MW) hoạt động từ năm 2005; Nhà máy xi măng Hồng Phong (công suất 10 vạn tấn năm) hoạt động từ giữa năm 2006; Nhà máy xi măng Đồng Bành (công suất 90 vạn tấn năm). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 là trên 19%, năm 2006 là 24,9%, năm 2007 là 10,85% [64; tr. Phát triển thương mại, dịchvà kinh tế cửa khẩu: được xác định là lĩnh vực mũi nhọn, là khâu đột phá trong thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, có tốc độ tăng trưởng cao thời kỳ 2001 - 2005 là 13,52%; năm 2006 là 11,97%, năm 2007 là 15,19%.

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng bình quân hàng năm 21,6%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2006 đạt 568 triệu USD, năm 2007 tổng kim ngạch xuất nhập khẩuước đạt 985 triệu USD (tăng 71,2% cùng kỳ, vượt 51,3% kế hoạch năm)[64; tr. Hoạt động du lịch phát triển mạnh và đa dạng. Trên địa bàn tỉnh hiện đã hình thành các tuyến du lịch quốc tế và nội địa, trong đó các tuyến du lịch từ Trung Quốc vào Việt Nam và từ Việt Nam qua Trung Quốc, Lạng Sơn là điểm trung chuyển và đón khách quan trọng.

Năm 2006, Lạng Sơn đón trên 1 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệu lượt khách du lịch; năm 2007 đón 1,4 triệu lượt khách (tăng 18% so cùng kỳ) [64; tr. Hệ thống doanh nghiệp phát triển nhanh, hiện nay toàn tỉnh có trên 700 doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân. Tổng thu ngân sách: trên địa bàn hàng năm đều tăng, giai đoạn 2001- 2006, tổng thu ngân sách trên địa bàn bình quân mỗi năm đạt trên 700 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với giai đoạn 1996 - 2000; năm 2001 đạt 1.017 tỷ đồng; năm 2006 đạt 960 tỷ đồng; năm 2007 ước đạt 1.379,3 tỷ đồng (đạt 123,5% kế hoạch, tăng 43,6% so với năm 2006); trong đó thu thuế xuất nhập khẩu đạt 975 tỷ đồng; thu nội địa là 404,3 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương ước 2.194,3 tỷ đồng, đạt 125,9% dự toán; trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 1.616 tỷ đồng, đạt 118% dự toán, tăng 12,97% cùng kỳ[64; tr.

Kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội: giao thông, thuỷ lợi, điện lưới, y tế, giáo dục, bưu chính viễn thông,…được tăng cường. Đến cuối năm 2006 đã có 83% số xã có đường ô tô đi lại được 4 mùa (100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã); 94,3% số xã có điện lưới quốc gia với 84% số hộ được sử dụng điện lưới; 58% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nước tưới cho trên 56% diện tích cây lương thực; 100% số xã có điện thoại cố định (đạt 6,5 máy/100 dân); 67% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã; 100% xã có báo đọc trong ngày [64; tr. Văn hoá - xã hội: Có nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Giáo dục - Đào tạo có bước phát triển mới, mở rộng về quy mô và từng bước nâng cao về chất lượng.

Tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ từ năm 1995 và đạt chuẩn phổ cập Giáo dục THCS vào năm 2006. Có 48 trường Tiểu học và Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia. Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số - kế 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch hoá gia đình từng bước nâng cao về chất lượng, 100% xã có trạm y tế, trong đó 70% xã có bác sỹ, 79,7% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ