Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo từ năm 2011 đến năm 2015. Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. CHƢƠNG 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 1.
Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn và chủ trƣơng của Đảng bộ 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo xóa đói giảm nghèo * Điều kiện tự nhiên và kinh tếxã hội Vị trí địa lý: Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam; cách thủ đô Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt; phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Bắc Cạn. Theo chiều Bắc Nam 22o27’- 21o19’ vĩ Bắc; chiều Đông Tây 106o06 - 107021’ kinh Đông[64; tr. Địa hình Lạng Sơn phổ biến là núi thấp và đồi, ít núi trung bình và không có núi cao.
Độ cao trung bình là 252m so với mực nước biển; Nơi thấp nhất là 20m ở phía Nam huyện Hữu Lũng, trên thung lũng sông Thương; Nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè (thuộc khối núi Mẫu Sơn) cao 1.541m so với mặt biển. Hướng địa hình rất đa dạng và phức tạp: Hướng Tây Bắc - Đông Namthể hiện ở máng trũng Thất Khê - Lộc Bình, trên đó có thung lũng các sông Bắc Khê, Kỳ Cùng và Tiên Yên (Quảng Ninh) và dãy hồ Đệ Tam đã được lấp đầy trầm tích Đệ Tam và Đệ Tứ, tạo thành các đồng bằng giữa núi có giá trị đối với ngành nông nghiệp của tỉnh như Thất Khê, Na Dương, Bản 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngà; Hướng Đông Bắc - Tây Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Hữu Lũng, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan và phần lớn huyện Văn Lãng, hướng này cũng thấy ở núi đồi huyện Cao Lộc (các xã Lộc Yên, Thanh Lòa và Thạch Đạn); Hướng Bắc Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Tràng Định, Bình Gia và phần phía Tây huyện Văn Lãng; Hướng Tây Đông thể hiện ở hướng của quần sơn Mẫu Sơn với khoảng 80 ngọn núi. Đất đai: Theo thống kê (10/1995), diện tích đất tự nhiên là 818.725ha, trong đó: đất nông nghiệp là 64.635,01ha (chiếm 21,08%); đất chuyên dùng là 10.787 ha (chiếm 1,33%); đất ở là 4.611,48 ha (chiếm 0,56%); đất chưa sử dụng và các loại đất khác là 565. Đất đai Lạng Sơn được chia thành 7 vùng với 16 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng gồm 43 loại đất khác nhau phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau [64; tr.
Khoáng sản: Trong địa phận tỉnh Lạng Sơn, nhóm khoáng sản kim loại gồm có kim loại đen (sắt, man-gan), kim loại màu (nhôm, quặng bô-xít, quặng alít, đồng, chì, kẽm), kim loại quý (vàng) và kim loại hiếm (thiếc, mô- líp-đen, van-an-đi, thủy ngân); khoáng sản phi kim loại gồm có khoáng sản nhiên liệu (than nâu, than bùn); khoáng sản dùng làm nguyên liệu áp quang và áp điện (thạch anh kỹ thuật); khoáng sản dùng làm nguyên liệu và phân bón; khoáng sản dùng làm vật liệu xây dựng [64; tr. Khí hậu: Lạng Sơn mang tính điển hình của khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 17 - 220C, có tháng lạnh nhất có thể giảm xuống 50C, có lúc 00C hoặc dưới 00C. Nằm ở phần cực bắc của đới vĩ độ thấp gần giáp chí tuyến bắc, giữa các vĩ độ 21 019’ và 22027’ vĩ bắc, và giữa 1060 06’ và 107021’ kinh Đông nên Lạng Sơn có nguồn bức xạ phong phú, cho phép các loại cây trồng vật nuôi bốn mùa sinh sôi nảy nở; tuy 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên Lạng Sơn lại nằm ở cửa ngõ đón gió mùa mùa đông, nơi có gió mùa cực đới đến sớm nhất và kết thúc muộn nhất ở miền Bắc nước ta nên có mùa đông lạnh [64; tr. Độ ẩm trung bình năm của không khí ở Lạng Sơn phổ biến là từ 80 - 85%, thấp hơn nhiều vùng khác ở nước ta.
Ít có sự chênh lệch về độ ẩm tương đối giữa các vùng và giữa các độ cao trong tỉnh. Lượng mưa: Lạng Sơn nằm ở khu vực Đông Bắc, ít mưa của vùng khí hậu miền Bắc; lượng mưa trung bình năm là 1. Nơi duy nhất có lượng mưa trên 1.600mm là vùng núi cao Mẫu Sơn (2.589mm); tại Lạng Sơn có Na Sầm (1.118 mm) và Đồng Đăng (1.100mm) là những trung tâm khô hạn của miền Bắc [64; tr. Sông ngòi: Chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm trong vùng đất dốc thuộc khu miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn có mạng lưới sông ngòi khá phong phú.
Mật độ mạng lưới sông ở đây dao động trung bình từ 0,6 đến 1,2/km2. So với mật độ sông suối trung bình của cả nước là 0,6/km2 thì mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại từ trung bình đến khá dày. Lạng Sơn có 5 sông chính độc lập, đó là sông Kỳ Cùng, Sông Thương, Sông Lục Nam, sông Tiên Yên- Ba Chẽ (hay Nậm Luổi - Đồng Quy) và sông Nà Lang. Về kinh tế: Những năm qua, kinh tế của tỉnh có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 đạt 10,04%, năm 2006 đạt 10,34%, năm 2007 tăng trưởng kinh tế đạt 11,58%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: (năm 2006) nông lâm nghiệp là 40,38%, công nghiệp-xây dựng 21,14%, thương mại- dịch vụ 38,48%; năm 2007 nông lâm nghiệp là 38,9%, công nghiệp-xây dựng 21,8%, thương mại- dịch vụ 39,3% [64; tr. Lĩnh vực nông lâm nghiệp - nông thôn: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 đạt 4,75%; năm 2007 là 8,25%. Sản lượng 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lương thực bình quân hàng năm là 250.000 tấn, năm 2007 ước đạt 280.Cơ cấu nông nghiệp và nông thôn có bước chuyển dịch tích cực trên cơ sở khai thác và phát huy lợi thế kinh tế đồi rừng để phát triển hàng hoá, đa dạng hoá ngành nghề, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên đầu tư, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên, các dịch vụ sản xuất ngày càng được mở rộng và phát triển.
Tỉ lệ che phủ rừng năm 2006 là 43,06%, năm 2007 là 44,4%. Ngành công nghiệp: Tỉnh chưa có cơ sở sản xuất lớn, một số sản phẩm chủ yếu là gạch nung; khai thác đá; quặng sắt; bô-xít,; lắp ráp; sửa chữa cơ khí; chế biến lâm sản…Một số cơ sở công nghiệp như: Nhà máy nhiệt điện Na Dương (công suất 100MW) hoạt động từ năm 2005; Nhà máy xi măng Hồng Phong (công suất 10 vạn tấn năm) hoạt động từ giữa năm 2006; Nhà máy xi măng Đồng Bành (công suất 90 vạn tấn năm). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 là trên 19%, năm 2006 là 24,9%, năm 2007 là 10,85% [64; tr. Phát triển thương mại, dịchvà kinh tế cửa khẩu: được xác định là lĩnh vực mũi nhọn, là khâu đột phá trong thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, có tốc độ tăng trưởng cao thời kỳ 2001 - 2005 là 13,52%; năm 2006 là 11,97%, năm 2007 là 15,19%.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng bình quân hàng năm 21,6%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2006 đạt 568 triệu USD, năm 2007 tổng kim ngạch xuất nhập khẩuước đạt 985 triệu USD (tăng 71,2% cùng kỳ, vượt 51,3% kế hoạch năm)[64; tr. Hoạt động du lịch phát triển mạnh và đa dạng. Trên địa bàn tỉnh hiện đã hình thành các tuyến du lịch quốc tế và nội địa, trong đó các tuyến du lịch từ Trung Quốc vào Việt Nam và từ Việt Nam qua Trung Quốc, Lạng Sơn là điểm trung chuyển và đón khách quan trọng.
Năm 2006, Lạng Sơn đón trên 1 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệu lượt khách du lịch; năm 2007 đón 1,4 triệu lượt khách (tăng 18% so cùng kỳ) [64; tr. Hệ thống doanh nghiệp phát triển nhanh, hiện nay toàn tỉnh có trên 700 doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân. Tổng thu ngân sách: trên địa bàn hàng năm đều tăng, giai đoạn 2001- 2006, tổng thu ngân sách trên địa bàn bình quân mỗi năm đạt trên 700 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với giai đoạn 1996 - 2000; năm 2001 đạt 1.017 tỷ đồng; năm 2006 đạt 960 tỷ đồng; năm 2007 ước đạt 1.379,3 tỷ đồng (đạt 123,5% kế hoạch, tăng 43,6% so với năm 2006); trong đó thu thuế xuất nhập khẩu đạt 975 tỷ đồng; thu nội địa là 404,3 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương ước 2.194,3 tỷ đồng, đạt 125,9% dự toán; trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 1.616 tỷ đồng, đạt 118% dự toán, tăng 12,97% cùng kỳ[64; tr.
Kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội: giao thông, thuỷ lợi, điện lưới, y tế, giáo dục, bưu chính viễn thông,…được tăng cường. Đến cuối năm 2006 đã có 83% số xã có đường ô tô đi lại được 4 mùa (100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã); 94,3% số xã có điện lưới quốc gia với 84% số hộ được sử dụng điện lưới; 58% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nước tưới cho trên 56% diện tích cây lương thực; 100% số xã có điện thoại cố định (đạt 6,5 máy/100 dân); 67% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã; 100% xã có báo đọc trong ngày [64; tr. Văn hoá - xã hội: Có nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Giáo dục - Đào tạo có bước phát triển mới, mở rộng về quy mô và từng bước nâng cao về chất lượng.
Tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ từ năm 1995 và đạt chuẩn phổ cập Giáo dục THCS vào năm 2006. Có 48 trường Tiểu học và Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia. Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số - kế 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch hoá gia đình từng bước nâng cao về chất lượng, 100% xã có trạm y tế, trong đó 70% xã có bác sỹ, 79,7% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.