MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập với toàn thế giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, đặc biệt chú trọng tới nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Mỗi con người sống trong cuộc sống này đều có những số phận khác nhau. Cuộc sống vốn không có sự hoàn hảo toàn vẹn, có người giàu, người nghèo, người hạnh phúc, người bất hạnh, đó là bức tranh toàn cảnh về xã hội.
Con người ai cũng có những mong ước, điều mong ước giản dị nhất là có một cuộc sống bình thường như những người bình thường khác. Có những người suốt cả cuộc đời không thể bước đi trên đôi chân của mình, có những người ao ước được một lần nhìn thấy ánh sáng…Đó là phần không may mắn mà người khuyết tật (NKT) đang phải gánh chịu. Người khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số thế giới, trong bất kỳ một xã hội nào dù phát triển hay kém phát triển, dù phải hứng chịu chiến tranh hay không phải trải qua chiến tranh cũng tồn tại một bộ phận người khuyết tật. Việt Nam là một đất nước nghèo, trải qua mấy chục năm chiến tranh, vì thế bộ phận người khuyết tật là một phần của dân số nước ta.
Chính vì thế, người khuyết tật là những người cần được đặc biệt quan tâm, chăm sóc từ cộng đồng trong xã hội, cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhà nước cần phải có nhiều chính sách xã hội hỗ trợ người khuyết tật để họ được tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp họ hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Người khuyết tật luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti về khiếm khuyết của mình, cuộc sống của họ bị bó hẹp trong một không gian nhất định, sống thu hẹp, ngại giao lưu tiếp xúc với bên ngoài. Vì vậy, việc thực hiện an sinh xã hội rất quan trọng, đặc biệt cho người khuyết tật trong tình hình kinh tế, xã hội phát triển ngày nay.
Đó thể hiện tinh 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, giúp người khuyết tật vươn lên trong cuộc sống, làm chủ bản thân, hòa nhập với cộng đồng, xã hội. Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới những bộ phận yếu thế trong xã hội, trong đó có người khuyết tật. Chính sách xã hội dành cho người khuyết tật đã được hình thành cùng với những chính sách xã hội cho các đối tượng khác. Hiện nay, có rất nhiều chính sách xã hội dành cho người khuyết tật.
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản Luật, Nghị định liên quan đến người khuyết tật như: Luật người khuyết tật ngày 17/6/2010, Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội….Các văn bản đã quy định rất rõ những chính sách xã hội dành cho người khuyết tật, nhưng vẫn chưa đáp ứng được cuộc sống tối thiểu của người khuyết tật, hiệu quả thực hiện chính sách chưa cao. Hiện nay, có rất nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm tới đời sống người khuyết tật, các chính sách, trợ cấp từ Nhà nước không được triển khai hoặc thực hiện thực sự chưa hiệu quả, còn có nhiều người khuyết tật không hề biết về các chính sách, quyền lợi mà họ đáng được hưởng. Vì vậy, để các chính sách an sinh xã hội đến được với người dân thì vai trò của các cấp chính quyền là rất quan trọng, cũng như vai trò của cán bộ thực hiện chính sách trong việc triển khai, thực hiện chính sách an sinh xã hội đến được với người dân, đặc biệt là người khuyết tật. Xã Tản Lĩnh là một trong 7 xã thuộc vùng dân tộc, vùng khó khăn trên địa bàn huyện Ba Vì.
Xã nằm cách xa trung tâm Huyện khoảng 20km, là một xã nghèo, kinh tế khó khăn, làm ruộng, nương là chủ yếu. Xã Tản Lĩnh cũng như các xã khác của huyện Ba Vì cũng có người khuyết tật, họ cũng mong muốn được hưởng các chế độ chính sách của Nhà Nước để cải thiện cuộc 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống, hòa nhập với cộng đồng, nên việc thực hiện chính sách xã hội kịp thời là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách xã hội chưa đầy đủ, chưa bao trùm, chưa đáp ứng được nhu cầu của người khuyết tật. Những tồn tại, hạn chế này xuất phát từ những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau.
Đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn và cần được Nhà Nước tiếp tục quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau. Điều này đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện chính sách đúng đắn, kịp thời. Do đó, đã hướng cho học viên đề tài nghiên cứu “ Hoạt động thực hiện chính sách xã hội đối với ngƣời khuyết tật tại cộng đồng’’ (Nghiên cứu trƣờng hợp xã Tản Lĩnh - huyện Ba Vì – TP Hà Nội). Ý nghĩa nghiên cứu 2.
Ý nghĩa khoa học Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về chính sách xã hội cho người khuyết tật ở cộng đồng, các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư đặc biệt là Luật người khuyết tật ngày 17/6/2010, Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; đề tài hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm liên quan tới chính sách xã hội cho người khuyết tật ở cộng đồng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của việc áp dụng chính sách và thực hiện chính sách xã hội. Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên ngành xã hội học. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin về thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội cho người khuyết tật ở cộng đồng trên địa bàn xã Tản Lĩnh - huyện Ba Vì – TP Hà Nội theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội, Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật. Qua đó, đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách và những tồn tại, hạn chế của hoạt động thực hiện chính sách hiện nay.
Bên cạnh đó tìm hiểu vai trò của cán bộ thực hiện chính sách trong việc thực hiện chính sách xã hội dành cho người khuyết tật ở cộng đồng và mong muốn của NKT về việc thực hiện chính sách. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu đề tài về người khuyết tật không phải là đề tài mới lạ, trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về an sinh xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng. Năm 2009, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành báo cáo tổng kết tình hình thi hành pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan.
Báo cáo đã chỉ rõ thực trạng người tàn tật và những kết quả thực hiện chính sách chế độ liên quan. Ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật. Bao gồm 29,% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác. Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động.
Thực hiện chính sách chăm sóc đời sống người khuyết tật, tính đến năm 2008, đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 395.962 người khuyết tật nghèo và 8.599 hộ có từ hai người khuyết tật, nuôi dưỡng tập trung 9.798 người khuyết tật trong 300 cơ sở bảo trợ xã hội. Theo báo cáo, đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% người khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo, thưc hiện chỉnh hình phục hồi chức năng và cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí cho khoảng 300 ngàn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người khuyết tật; cung cấp phương tiện trợ giúp như xe lăn, xe đẩy, chân tay giả cho trên 100 ngàn người; phẫu thuật chỉnh hình và trợ giúp phục hồi chức năng cho hàng trăm ngàn trẻ em khuyết tật. Trong cả nước có 260 cơ sở dạy nghề đóng trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố, trong đó 55 cơ sở chuyên biệt và 205 cơ sở có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật. Theo khảo sát năm 2008, có trên 50% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm, trong đó chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp (trên 70%).
Thực hiện các chính sách giải pháp tạo việc làm người khuyết tật, cả nước có hơn 400 cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh và người khuyết tật, tạo việc làm ổn định cho 15.000 lao động là người khuyết tật, khoảng 65% số hộ có người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, như: miễn giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đất sản xuất.Tuy nhiên, báo cáo cũng đã chỉ rõ một số khó khăn, còn tồn tại sau khi thực hiện pháp lệnh người tàn tật: một bộ phận người khuyết tật nặng chưa được hưởng chính sách trợ giúp xã hội do quy định của Pháp lệnh là đối tượng thuộc diện hưởng chính sách phải là người khuyết tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa; mức trợ cấp xã hội hàng tháng còn quá thấp so với mặt bằng mức sống dân cư (mới chỉ bằng 60% chuẩn nghèo), chưa bảo đảm được những nhu cầu sống tối thiểu của người khuyết tật. Người khuyết tật vẫn khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ y tế, nhất là người khuyết tật ở vùng sâu, vùng xa khó khăn, điều kiện đi lại không thuận tiện. Nhiều địa phương do điều kiên khó khăn nên công tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng chưa đuợc quan tâm thực hiện. Như vậy, những năm qua đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã hội được cải thiện một bước.