Đảng Bộ Huyện Phú Bình Lãnh Đạo Thực Hiện Chính Sách Ưu Đãi Người Có Công Với Cách Mạng (2006-2014)

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ huyện Phú Bình trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công giai đoạn 2006-2014.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

122
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1. Mục đích

1.3.2. Nhiệm vụ

1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

2. ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

2.1. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam

2.2. Tình hình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở huyện Phú Bình trước năm 2006

2.3. Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Đảng bộ huyện Phú Bình giai đoạn 2006-2010

2.3.1. Chủ trương thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Đảng bộ huyện Phú Bình

2.3.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện

2.3.2.1. Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
2.3.2.2. Thực hiện chế độ ưu đãi về trợ cấp, phụ cấp
2.3.2.3. Thực hiện chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khỏe
2.3.2.4. Thực hiện chế độ ưu đãi về nhà ở

3. ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2014

3.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình

3.1.1. Yêu cầu mới

3.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình

3.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện

3.2.1. Kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng

3.2.2. Thực hiện chế độ ưu đãi về trợ cấp, phụ cấp

3.2.3. Thực hiện chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khỏe

3.2.4. Thực hiện chế độ ưu đãi nhà ở

4. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chính Sách Ưu Đãi Người Có Công Tại Huyện Phú Bình

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, chính sách này đã được thực hiện từ năm 2006 đến năm 2014 với nhiều kết quả đáng ghi nhận. Huyện Phú Bình có truyền thống cách mạng lâu đời, nơi có nhiều người đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Chính sách ưu đãi không chỉ thể hiện lòng tri ân của xã hội đối với những người có công mà còn góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho họ.

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa của Chính Sách Ưu Đãi

Chính sách ưu đãi người có công được hiểu là các chế độ, chính sách hỗ trợ về vật chất và tinh thần dành cho những người đã có công lao trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Ý nghĩa của chính sách này không chỉ nằm ở việc hỗ trợ tài chính mà còn thể hiện sự tôn vinh và tri ân đối với những hy sinh của họ.

1.2. Lịch sử hình thành Chính Sách Ưu Đãi tại Phú Bình

Chính sách ưu đãi người có công tại huyện Phú Bình đã được hình thành từ những năm đầu sau giải phóng. Qua các giai đoạn, chính sách này đã được điều chỉnh và hoàn thiện để phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của người dân.

II. Vấn đề và Thách thức trong Thực Hiện Chính Sách Ưu Đãi

Mặc dù chính sách ưu đãi người có công đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề và thách thức trong quá trình thực hiện. Những khó khăn này ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách và đời sống của người có công.

2.1. Những khó khăn trong việc tiếp cận chính sách

Nhiều người có công vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chế độ ưu đãi do thiếu thông tin hoặc không nắm rõ quy trình. Điều này dẫn đến việc một số đối tượng không được hưởng đầy đủ quyền lợi của mình.

2.2. Tình trạng thiếu nguồn lực hỗ trợ

Nguồn lực tài chính và nhân lực để thực hiện chính sách ưu đãi còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ và hỗ trợ cho người có công, đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và nhà ở.

III. Phương Pháp Thực Hiện Chính Sách Ưu Đãi Người Có Công

Để thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi người có công, huyện Phú Bình đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Những phương pháp này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người có công và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền về chính sách ưu đãi cần được đẩy mạnh để người dân hiểu rõ quyền lợi của mình. Các hình thức tuyên truyền đa dạng như hội thảo, phát tờ rơi, và sử dụng mạng xã hội sẽ giúp nâng cao nhận thức.

3.2. Cải thiện quy trình tiếp nhận hồ sơ

Cần cải thiện quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ để người có công có thể dễ dàng tiếp cận các chế độ ưu đãi. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho người dân.

IV. Kết Quả Thực Hiện Chính Sách Ưu Đãi Tại Huyện Phú Bình

Kết quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công tại huyện Phú Bình từ năm 2006 đến 2014 đã mang lại nhiều thay đổi tích cực cho đời sống của người có công. Những kết quả này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà còn là minh chứng cho sự nỗ lực của toàn xã hội.

4.1. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần

Nhiều gia đình người có công đã được cải thiện đời sống nhờ vào các chế độ trợ cấp, phụ cấp. Điều này giúp họ có điều kiện tốt hơn để chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế gia đình.

4.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Cộng đồng đã có nhiều hoạt động hỗ trợ người có công, từ việc tổ chức các buổi lễ tri ân đến việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Sự tham gia này đã tạo ra một môi trường xã hội tích cực cho người có công.

V. Kết Luận và Hướng Tương Lai của Chính Sách Ưu Đãi

Chính sách ưu đãi người có công tại huyện Phú Bình đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong giai đoạn 2006-2014. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của chính sách trong tương lai, cần có những điều chỉnh và cải tiến phù hợp.

5.1. Đề xuất cải tiến chính sách

Cần xem xét và điều chỉnh các chính sách hiện hành để phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của người có công. Việc lắng nghe ý kiến của người dân sẽ giúp cải thiện chất lượng chính sách.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan

Sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng là rất quan trọng để thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi. Các bên cần phối hợp chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người có công.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện phú bình thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ năm 2006 đến năm 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Đảng bộ huyện Phú Bình lãnh đạo thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng giai đoạn 2006 - 2010 Chương 2. Đảng bộ huyện Phú Bình lãnh đạo thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ năm 2010 đến năm 2014 Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 1.1 Chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam và tình hình thực hiện ở huyện Phú Bình trƣớc năm 2006 1.1 Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam Con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng giải phóng dân tộc.

Trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại ấy có biết bao người con ưu tú đã hy sinh xương máu, tuổi trẻ, sức lực, trí tuệ cho đất nước. Vì vậy Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đời đời ghi nhớ công lao to lớn của họ. Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với NCCVCM là một chính sách ưu tiên xuyên suốt trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội. Chính sách này thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của Nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, làm cơ sở vững chắc để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc góp phần ổn định chính trị, xã hội.

Trong từng thời kỳ chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước ưu đãi cho người có công luôn được thay đổi, bổ sung để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và tình hình kinh tế của đất nước. Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược lần thứ hai. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh toàn thể dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên đấu tranh bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng với tinh thần bất diệt “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong cuộc chiến đấu gian khổ và quyết liệt ấy nhiều đồng bào chiến sỹ đã hy sinh xương máu trên chiến trường.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thể hiện tấm lòng biết ơn với những người đã “dùng máu đào tô thắm lá cờ Tổ quốc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 tại Thái Nguyên về quy định chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất đối với thân nhân tử sĩ. Đây là văn bản đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống chính sách ưu đãi NCCCM. Cùng thời gian này tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, theo đề nghị của đại diện Chính trị Cục Quân đội Quốc gia Việt Nam lấy ngày 27/07/1947 làm ngày thương binh - liệt sĩ, ngày toàn dân cùng thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, là dịp để toàn thể nhân dân chứng tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh. Ngày 27 tháng 7 là một dịp để đồng bào cả nước tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh các phong trào giúp đỡ binh sỹ như “mùa đông binh sỹ” tặng áo ấm cho các chiến sỹ, “hội giúp đỡ binh sỹ bị nạn” đưa các binh sỹ bị thương tật trở về địa phương hoặc đưa vào các trung tâm nuôi dưỡng để chăm sóc. Tại đây họ được chăm sóc, chữa trị vết thương và nhanh chóng phục hồi sức khỏe. Một số chiến sỹ đã trở lại chiến trường tiếp tục cầm súng chiến đấu, nhiều người trở về địa phương tham gia sản xuất, phục vụ chiến đấu. Như vậy, trong giai đoạn 1945-1954 chính sách ưu đãi NCCVCM được thực hiện trong điều kiện cả nước phải đương đầu với cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, ác liệt.

Do đó chính sách ưu đãi NCCVCM của Đảng, Chính phủ chỉ giải quyết được một phần các vấn đề về trợ cấp, phụ cấp và các ưu đãi đặc biệt về chia ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp cho NCCVCM. Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chống lại đế quốc Mỹ xâm lược. Chính sách ưu đãi NCCVCM được triển khai với hình thức khác nhau trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt. Lúc này ở miền Nam vẫn chịu sự 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kìm kẹp của chính quyền Mĩ - Diệm nên các chính sách ưu đãi này chưa được ban hành.

Các thương - bệnh binh chiến đấu trong vùng địch tạm chiến được người dân miền Nam cất giấu, điều trị và nuôi dưỡng chờ cơ hội để chuyển ra vùng giải phóng. Các chiến sỹ hy sinh được đồng đội, người dân chôn cất ngay tại chiến trường. Năm 1970, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định lấy ngày 01 tháng 12 hàng năm làm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Từ đó, hàng năm đến ngày 01 tháng 12, Chính phủ cử các đoàn đại biểu đến tặng quà, thư động viên, thăm hỏi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và nhắc nhở quân dân các địa phương quan tâm, săn sóc, giúp đỡ những người con đã hy sinh cho dân tộc Ở miền Bắc ngay sau ngày giải phóng, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quy định chế độ ưu đãi cho NCCVCM.

Năm 1955 Đảng đổi tên ngày Thương binh toàn quốc thành ngày Thương binh - Liệt sỹ. Các chế độ ưu đãi được quy định cụ thể hơn trong từng văn bản Pháp luật cho từng đối tượng thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật… Ngày 27/07/1956 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 980- Ttg về bản điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sỹ và bản điều lệ ưu đãi gia đình quân nhân. Đây là những người có công với Tổ quốc, Chính phủ và nhân dân luôn ghi nhớ công lao đó. Bản điều lệ này, ngoài việc quy định những vinh dự về tinh thần còn nhằm mục đích giúp đỡ thương binh, bệnh binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật tổ chức đời sống và phát huy khả năng của mình.

Họ được hưởng những ưu đãi về phụ cấp thương tật, trợ cấp sản xuất hay an dưỡng, ưu đãi trong ruộng đất, thuế nông nghiệp, được chiếu cố trong tuyển dụng hoặc đi học. Cùng với việc ban hành các chủ trương, chính sách, các phong trào toàn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân chăm sóc NCCVCM được thực hiện sôi nổi trong thời kỳ này như phong trào Trần Quốc Toản (các cháu thiếu niên giúp đỡ thương binh gia đình liệt sỹ), phong trào giúp đỡ thương binh, liệt sỹ trong hợp tác xã nông nghiệp, phong trào đỡ đầu nhận chăm sóc con liệt sỹ, phong trào xây dựng hũ gạo tình nghĩa… đã được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng. Như vậy, chính sách ưu đãi NCCVCM trong kháng chiến chống Mỹ có sự khác biệt giữa hai miền Nam - Bắc do tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh. Mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm mục đích phục vụ chiến đấu và động viên chiến đấu để hoàn thành sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Do đó, chính sách ưu đãi NCCCM cũng nằm trong chiến lược giải phóng dân tộc của Đảng. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được thực thi có hiệu quả ở miền Bắc đã có tác dụng động viên chiến đấu và khích lệ sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà nước vẫn xác định công tác chăm sóc người có công là một trong những vấn đề lớn của đất nước. Cụ thể hoá quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật ưu đãi đối với người có công, khắc phục một số bất hợp lý, giải quyết một khối lượng lớn công việc do hậu quả của chiến tranh để lại, hình thành một hệ thống văn bản pháp quy có hiệu lực thực hiện thống nhất trong cả nước, phục vụ yêu cầu của giai đoạn mới.

Đầu tiên phải kể đến đó là Chỉ thị số 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sỹ sau chiến tranh, thống nhất chế độ giữa hai miền, tập trung quy tập mộ, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ.Từ năm 1975 trở đi ngày 27/7 hàng năm chính thức trở thành “ngày Thương binh - Liệt sỹ” cả của nước. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 15/7/1985 Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 68 - CT/TW về việc tăng cường chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng. Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng"Người công dân kiểu mẫu”,“Gia đình cách mạng gương mẫu" thu hút nhiều nguời, nhiều gia đình có công ở cơ sở tham gia. Chấn chỉnh nề nếp sinh hoạt chính trị ở các cấp của những người và gia đình có công, nhất là đối với cán bộ, bộ đội hưu trí.

Mặt khác cần chống lại luận điệu chiến tranh tâm lý, phá hoại của địch, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những hành động phi pháp làm mất uy tín và phá hoại truyền thống cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, hàng vạn thương binh, bệnh binh đã nỗ lực phấn đấu, vượt mọi khó khăn, nhiều người đã gương mẫu trong lao động, sản xuất, công tác và học tập, đảm nhiệm những vị trí trọng trách quan trọng từ Trung ương đến địa phương và trở thành Anh hùng Lao động, Chiến sĩ thi đua, Người công dân kiểu mẫu, Gia đình cách mạng kiểu mẫu. Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của công tác thực hiện chính sách ưu đãi NCCVCM ngay sau giải phóng (1975-1985) là tập trung vào công tác xác nhận thương binh, liệt sỹ, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng nghĩa trang, đài tưởng niệm để tỏ lòng biết ơn đối với những người con đã hy sinh vì nền độc lập của dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ