Tổng quan nghiên cứu

Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên là một trong ba trụ cột cốt lõi của hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, giữ vai trò lưới đỡ an toàn cuối cùng cho các nhóm yếu thế trong cộng đồng. Tại tỉnh Thái Bình, một tỉnh đồng bằng duyên hải với dân số trên 1,8 triệu người, tỷ lệ cư dân sinh sống tại nông thôn lên tới 94,2% và mật độ dân số đạt 1.192 người/km2, việc giải quyết các vấn đề an sinh cho người già cô đơn, người khuyết tật và người mắc bệnh mạn tính luôn là thách thức lớn. Kể từ khi Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP được ban hành, mức chuẩn trợ cấp xã hội đã được điều chỉnh từ 120.000 đồng lên 180.000 đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, trước biến động giá cả thị trường và chi phí sinh hoạt tăng cao, câu hỏi về việc mức trợ cấp này đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu sống thực tế của người dân vẫn cần được làm rõ.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học của tác giả Đỗ Thị Phượng tập trung khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng đời sống của 268 đối tượng đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên tại xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Mục tiêu chính của đề tài là phân tích thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của các đối tượng thụ hưởng, xác định các yếu tố tác động, tìm hiểu mức độ phù hợp của chính sách và ghi nhận nhu cầu, nguyện vọng thực tế của người dân. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi thời gian từ tháng 7/2013 đến tháng 9/2014. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ số thu nhập, chi tiêu, sức khỏe của 100% đối tượng hưởng lợi tại địa phương, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc để hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở cấp vĩ mô và vi mô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng thời ba khung lý thuyết xã hội học hiện đại kết hợp với hệ thống khái niệm công cụ chuẩn mực:

  • Lý thuyết xã hội học về chính sách công theo cách tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up approach): Lý thuyết này tập trung phân tích từ góc độ đối tượng thụ hưởng tại cơ sở, nhận diện quá trình thẩm thấu chính sách, những điều chỉnh sáng tạo chính sách của chính quyền địa phương cũng như sự thỏa hiệp hoặc xung đột giữa quy định trung ương và nguồn lực thực tế tại địa bàn.
  • Lý thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Thang đo 5 tầng nhu cầu từ nhu cầu thể lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng đến nhu cầu tự thể hiện được sử dụng để đánh giá mức độ đáp ứng của chính sách an sinh xã hội đối với người thụ hưởng tại nông thôn.
  • Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý: Khung phân tích hành động duy lý giúp lý giải cách thức các cá nhân và hộ gia đình tối ưu hóa nguồn trợ cấp hàng tháng còn hạn hẹp nhằm duy trì các nhu cầu sinh tồn thiết yếu.

Các khái niệm công cụ then chốt được định nghĩa và thao tác hóa gồm: Chính sách xã hội, Đời sống (đời sống vật chất qua thu nhập, chi tiêu, tài sản; đời sống tinh thần qua chăm sóc y tế, tiếp cận giáo dục, hòa nhập cộng đồng), An sinh xã hội (theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO), và Trợ giúp xã hội thường xuyên theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện cao nhất:

  • Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi: Tác giả tiến hành điều tra toàn bộ 268 đối tượng đang hưởng trợ cấp thường xuyên trên địa bàn xã Đông Lĩnh. Quá trình phát và thu phiếu thực hiện qua hai đợt với sự hỗ trợ của cán bộ thôn và hội đồng phụ nữ, đạt tỷ lệ thu hồi 100% với 268 phiếu hợp lệ.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn định tính đối với 12 trường hợp đối tượng hưởng chính sách (gồm 8 người cao tuổi và 4 người khuyết tật hoặc người đại diện gia đình) cùng 2 cán bộ quản lý trực tiếp (1 cán bộ chính sách xã hội cấp xã và 1 cán bộ quản lý cấp thôn).
  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu từ các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của xã Đông Lĩnh, số liệu khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2010 của Tổng cục Thống kê, cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan như Luật Người cao tuổi năm 2009 và Luật Người khuyết tật năm 2010.

Lý do lựa chọn phương pháp tổng điều tra toàn bộ kết hợp phỏng vấn sâu là nhằm phản ánh trọn vẹn đặc trưng của một quần thể xã hội yếu thế tại một địa bàn nông thôn cụ thể mà không bị sai số do chọn mẫu ngẫu nhiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên toàn bộ 268 đối tượng thụ hưởng tại xã Đông Lĩnh mang lại những phát hiện quan trọng:

  • Cơ cấu nhóm đối tượng: Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội chiếm tỷ lệ áp đảo với 70,8% (190 người). Nhóm người khuyết tật nặng không có khả năng tự phục vụ chiếm 15,2% (41 người), và nhóm người mắc chứng bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần chiếm 14,0% (37 người).
  • Bấp bênh về thu nhập hộ gia đình: Có tới 69,8% hộ gia đình có người nhận trợ cấp (187 hộ) có tổng thu nhập dưới 1.000.000 đồng/tháng. Nhóm hộ có thu nhập từ 1 đến 3 triệu đồng chiếm 15,3% (41 hộ), từ 3 đến 5 triệu đồng chiếm 6,7% (18 hộ) và mức trên 5 triệu đồng chỉ chiếm 8,2% (22 hộ).
  • Mức chi tiêu sinh hoạt quá thấp: 83,6% hộ gia đình (224 hộ) có mức chi tiêu sinh hoạt bình quân hàng tháng dưới 1.000.000 đồng. Sự chênh lệch giữa tỷ lệ thu nhập dưới 1 triệu đồng (69,8%) và tỷ lệ chi tiêu dưới 1 triệu đồng (83,6%) phản ánh tình trạng thắt lưng buộc bụng cùng cực của các hộ gia đình.
  • Nhân khẩu học của chủ hộ: 56,7% chủ hộ có độ tuổi từ 70 đến 80 tuổi, 19,4% chủ hộ trên 80 tuổi và chỉ có 19,4% chủ hộ dưới 60 tuổi còn khả năng lao động. Về học vấn, 50,0% chủ hộ chỉ học hết tiểu học, 20,0% chưa từng đi học và chỉ có 8,6% có trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học.
  • Điều kiện nhà ở và tiện nghi: 50,4% hộ sống trong nhà mái bằng kiên cố, 45,1% sống trong nhà lợp ngói và 0% nhà tạm nhờ các chương trình xóa nhà dột nát. 100% hộ có tivi và điện thoại, 78,0% có bếp ga, nhưng các tiện nghi phục vụ chăm sóc như máy giặt chỉ đạt 4,4%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch sâu sắc giữa mức sống của hộ gia đình bảo trợ xã hội tại địa phương so với chuẩn chung của quốc gia. Theo số liệu Điều tra Mức sống Dân cư năm 2010 của Tổng cục Thống kê, mức chi tiêu đời sống bình quân một người một tháng tại khu vực nông thôn cả nước là 891.000 đồng. Trong khi đó, tại xã Đông Lĩnh, có tới 83,6% hộ gia đình có mức chi tiêu của cả hộ chỉ dưới 1.000.000 đồng/tháng. Khi so sánh mức trợ cấp tiền mặt 180.000 đồng/tháng theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP với chi phí tiêu dùng thực tế, khoản hỗ trợ này chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của một cá nhân.

Phân tích ma trận tương quan giữa học vấn chủ hộ và thu nhập gia đình được trình bày chi tiết qua các bảng thống kê trong luận văn đã chỉ ra quy luật: 100% hộ gia đình có chủ hộ chưa từng đi học hoặc chỉ học hết tiểu học đều rơi vào nhóm thu nhập dưới 1.000.000 đồng/tháng. Ngược lại, những hộ có chủ hộ đạt trình độ cao đẳng, đại học đều đạt mức thu nhập từ 3.000.000 đồng/tháng trở lên. Về khía cạnh y tế, mặc dù 100% đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP, việc thụ hưởng dịch vụ vẫn gặp nhiều rào cản do danh mục thuốc chi trả tại trạm y tế xã còn nghèo nàn, buộc hơn 60% đối tượng phải tự chi trả tiền thuốc điều trị ngoài danh mục.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả chính sách an sinh xã hội:

  • Điều chỉnh nâng mức trợ cấp cơ sở: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp cùng Bộ Tài chính trình Chính phủ nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 180.000 đồng lên mức 270.000 đồng đến 360.000 đồng/tháng trong giai đoạn 2015-2020, đảm bảo tăng từ 50% đến 100% so với mức cũ để bù đắp chỉ số lạm phát và hỗ trợ mức sống tối thiểu.
  • Nâng cấp chất lượng dịch vụ y tế cơ sở: Sở Y tế tỉnh Thái Bình và Bảo hiểm Xã hội tỉnh cần bổ sung danh mục thuốc bảo hiểm y tế điều trị bệnh mạn tính tại Trạm Y tế xã Đông Lĩnh, đồng thời tổ chức khám sức khỏe định kỳ tại nhà tối thiểu 2 lần/năm cho 100% người cao tuổi trên 80 tuổi và người khuyết tật đặc biệt nặng.
  • Đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm thích ứng: Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng phối hợp với Hội đồng Nhân dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đông Lĩnh xây dựng các lớp truyền nghề tiểu thủ công nghiệp tại chỗ cho 100% người khuyết tật còn khả năng lao động nhẹ và người chăm sóc, hoàn thành trong giai đoạn 2015-2017 nhằm tạo nguồn thu bổ sung từ 500.000 đến 1.500.000 đồng/tháng.
  • Đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường truyền thông: Ủy ban nhân dân xã Đông Lĩnh cần niêm yết công khai quy trình xét duyệt hồ sơ tại 100% nhà văn hóa thôn, rút ngắn thời gian thẩm định và chi trả trợ cấp từ 30 ngày xuống dưới 15 ngày làm việc, đảm bảo 100% đối tượng đủ tiêu chuẩn không bị bỏ sót.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Cán bộ hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước: Các chuyên viên tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh có thể sử dụng dữ liệu định lượng từ 268 trường hợp để xây dựng khung chính sách trợ cấp xã hội đa tầng và điều chỉnh tiêu chí xác định mức chuẩn trợ cấp nông thôn.
  • Cán bộ quản lý và thực thi chính sách cấp cơ sở: Đội ngũ công chức văn hóa - xã hội cấp xã, cán bộ huyện, cán bộ đoàn thể có thể tham khảo 100% quy trình rà soát, lập hồ sơ và phương pháp nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đối tượng yếu thế trên địa bàn quản lý.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về cách tiếp cận lý thuyết Bottom-up kết hợp tháp nhu cầu Maslow, phương pháp thiết kế công cụ bảng hỏi tổng điều tra toàn bộ 268 mẫu và kỹ thuật xử lý dữ liệu xã hội học thực địa.
  • Các tổ chức phi chính phủ, quỹ bảo trợ xã hội và doanh nghiệp hoạt động xã hội: Cung cấp bức tranh thực tế về nhu cầu của 70,8% người cao tuổi và 29,2% người khuyết tật, bệnh tâm thần để xây dựng các dự án tài trợ y tế, nhà ở và sinh kế hòa nhập cộng đồng đạt hiệu quả cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

  • Câu hỏi 1: Nhóm đối tượng nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong diện hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại xã Đông Lĩnh?
    • Trả lời: Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,8% (190 người trên tổng số 268 đối tượng khảo sát). Nhóm người khuyết tật nặng chiếm 15,2% (41 người) và nhóm người mắc chứng bệnh tâm thần chiếm 14,0% (37 người).
  • Câu hỏi 2: Mức trợ cấp xã hội thường xuyên bằng tiền mặt tại thời điểm khảo sát là bao nhiêu?
    • Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 13/2010/NĐ-CP có hiệu lực trong giai đoạn nghiên cứu, mức trợ cấp chuẩn cơ sở là 180.000 đồng/tháng. Tùy theo từng nhóm đối tượng cụ thể, mức hỗ trợ thực nhận được nhân theo hệ số từ 1,0 đến 2,0, tăng 50% so với mức chuẩn 120.000 đồng/tháng của năm 2007.
  • Câu hỏi 3: Thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình có đối tượng hưởng trợ cấp tại địa phương có đặc điểm gì?
    • Trả lời: Nghiên cứu ghi nhận 69,8% hộ gia đình có tổng thu nhập dưới 1.000.000 đồng/tháng và 83,6% hộ có mức chi tiêu sinh hoạt dưới 1.000.000 đồng/tháng. Đa số chủ hộ (56,7%) đã ở độ tuổi 70-80 tuổi và 70% chủ hộ có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống hoặc chưa từng đi học.
  • Câu hỏi 4: Chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho đối tượng bảo trợ xã hội phát huy hiệu quả ra sao trên thực tế?
    • Trả lời: Toàn bộ 100% đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế bị giảm sút do thuốc chuyên khoa tại trạm y tế xã còn thiếu, khiến hơn 60% đối tượng vẫn phải tự bỏ tiền túi mua thuốc ngoài danh mục và chi trả phí đi lại khi lên tuyến trên.
  • Câu hỏi 5: Phương pháp thu thập dữ liệu định lượng của đề tài có điểm gì đặc biệt?
    • Trả lời: Tác giả đã tiến hành tổng điều tra toàn bộ 268 đối tượng thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tại xã Đông Lĩnh thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên. Tỷ lệ thu hồi phiếu đạt 100%, kết hợp cùng 12 phỏng vấn sâu cá nhân và 2 phỏng vấn cán bộ chuyên trách để đảm bảo tính khách quan tuyệt đối.

Kết luận

  • Điều tra toàn diện 100% đối tượng hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại xã Đông Lĩnh với quy mô 268 cá nhân và hộ gia đình.
  • Xác định cơ cấu đối tượng gồm 70,8% người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên, 15,2% người khuyết tật nặng và 14,0% người mắc bệnh tâm thần.
  • Làm rõ thực trạng đời sống khó khăn với 69,8% hộ gia đình có thu nhập và 83,6% hộ có chi tiêu sinh hoạt dưới 1.000.000 đồng/tháng.
  • Chứng minh mức trợ cấp chuẩn 180.000 đồng/tháng mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của đối tượng thụ hưởng.
  • Chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa trình độ học vấn thấp của chủ hộ với bẫy nghèo đói kéo dài tại nông thôn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực nghiệm chân thực, khoa học về đời sống của nhóm xã hội yếu thế tại nông thôn đồng bằng sông Hồng, chỉ rõ khoảng cách giữa văn bản chính sách và thực tiễn đời sống. Bước tiếp theo, các nghiên cứu cần mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ 7 huyện của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2015-2020 nhằm xây dựng mô hình an sinh xã hội tích hợp. Các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng xã hội cần đẩy mạnh liên kết nguồn lực, sớm hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội theo hướng đa tầng, nâng cao mức trợ cấp và chất lượng dịch vụ y tế cơ sở để không một ai bị bỏ lại phía sau.