Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm khuyết tật và người khuyết tật 1. Khái niệm khuyết tật Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khuyết tật dựa trên những bối cảnh khác nhau.
Theo quan điểm của tổ chức Quốc tế của người khuyết tật: “Khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống” Theo Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật: “Sự khuyết tật là sự giới hạn hoặc mất mát các cơ hội tham gia vào các sinh hoạt bình thường của cộng đồng trong sự bình đẳng với những người khác do những rào cản về kinh tế, xã hội và môi trường; khuyết tật là một khái niệm có tính phát triển, là những kết quả từ sự tương tác của những người có khiếm khuyết với những rào cản trong thái độ và môi trường. Khuyết tật đã gây cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội dựa trên nền tảng bình đẳng với những người khác”. Tại Việt Nam, từ khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần. Còn từ “tật” có nghĩa là “điều gì đó không bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc.
Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra”. Khái niệm người khuyết tật Tùy bối cảnh, giai đoạn mà mỗi quốc gia lại có những quan niệm khác nhau về người khuyết tật. 11 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (năm 1983), khoản 1, Điều 1 quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều 1 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Ở Đức, sách số 9 của Bộ luật xã hội định nghĩa: “Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội” Luật bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa người khuyết tật là “Người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”.
Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA – Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu 12 chứng). 13 Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật này thì “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.” Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh,…Như vậy, luật Người khuyết tật Việt Nam đã đưa ra khái niệm người khuyết tật dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trong Công ước về quyền của người khuyết tật.
Trong quá trình xây dựng Luật Người khuyết tật năm 2010, từ “Khuyết tật” được khuyến nghị dùng để thay thế từ “ Tàn tật” trong các luật. Tuy nhiên, dù các cách diễn đạt khác nhau nhưng các quan điểm đều phản ánh được một thực tế đó là người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể, và họ có thể gặp các rào cản do các yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “Người khuyết tật” và trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách hiểu về người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật tại Việt Nam. Phân loại các dạng khuyết tật Theo Điều 3 - Luật Người khuyết tật năm 2010 và Điều 2 - Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 4 năm 2012, gồm các dạng khuyết tật sau: - Khuyết tật vận động: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
14 - Khuyết tật nghe, nói: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. - Khuyết tật nhìn: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điền kiện ánh sáng và môi trường bình thường. - Khuyết tật thần kinh, tâm thần: Là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. - Khuyết tật trí tuệ: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc.
- Khuyết tật khác: Là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp đã nêu trên. Ngoài ra, người khuyết tật theo mức độ khuyết tật bao gồm: - Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; - Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; - Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại hai điểm nói trên. Nguyên nhân khuyết tật Khuyết tật bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân, chúng ta có thể phân loại khuyết tật theo các nhóm nguyên nhân sau đây. Những nguyên nhân do môi trường sống: - Điều kiện ăn ở thiếu thốn, mất vệ sinh; - Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai; 15 - Nhiễm độc do sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi; - Chấn thương do tai nạn, rủi ro; - Các cuộc chiến tranh và bạo lực; - Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống.
Những nguyên nhân do xã hội: - Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống) gây biến đổi về di truyền; - Sự bất lực của y học và khoa học kĩ thuật; - Sự kỳ thị, phân biệt đối xử của xã hội; - Mù chữ, thiếu hiểu biết về các dịch vụ y tế sẵn có. Những nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh: - Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh chẳng hạn như hội chứng Đao, sai lệch nhiễm sắc thể trong quá trình phân bào. - Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubella, giang mai, HIV; do nhiễm độc một số thực phẩm do người mẹ dùng như thuốc chống động kinh, các chất có cồn rượu; hoặc suy dinh dưỡng ở người mẹ hoặc thiếu Iốt trong bữa ăn hàng ngày. Một số nguyên nhân khác như: thiếu oxy, thời gian sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh; lây nhiễm trong khi sinh và đẻ non cũng là những nguyên nhân gây ra hiện tượng khuyết tật sau này.
Đặc điểm của người khuyết tật Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm người không khuyết tật và mỗi nhóm người khuyết tật dạng này lại có nét đặc thù tương đối so với nhóm người khuyết tật dạng khác. Về phương diện pháp lý, làm rõ các đặc điểm của người khuyết tật là một trong những cơ sở, căn cứ khoa học tác động đến việc quy định, ban 16 hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với người khuyết tật. Điều đó thể hiện cụ thể như sau: - Đặc điểm về sức khỏe: So với người bình thường có đầy đủ các bộ phận trên cơ thể theo cấu tạo sinh học, khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi trong các quan hệ xã hội thì người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết (thiếu, không có hoặc bị mất đi) bộ phận nào đó trên cơ thể, bị suy giảm sức khỏe khó có thể phục hồi, bị hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức, tiếp thu các tư tưởng văn hóa và giáo dục như các chủ thể thông thường khác.
- Đặc điểm về tâm lý: Nhìn chung người khuyết tật là những người sống rất khép kín, ngại giao tiếp, ít hòa nhập cộng đồng. Họ thường có những mặc cảm, tự ti và bi quan về sự tật nguyền của mình.