LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cơ chế truyền tải CSTT tới hệ thống ngân hàng và nền kinh tế luôn là một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm. Nắm bắt được chiều hướng tác động của CSTT tới nền kinh tế là cơ sở để các nhà quản lý tiền tệ đưa ra các chính sách phù hợp. Ngay cả khi đưa ra được một chính sách phù hợp thì việc lựa chọn và cách thức sử dụng công cụ CSTT cũng đòi hỏi phải đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của nó tới các biến số kinh tế vĩ mô.
Đã có nhiều nghiên cứu về các kênh truyền tải CSTT như kênh lãi suất, tỷ giá, giá tài sản, chấp nhận rủi ro, tín dụng… nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu cả về cơ chế truyển tải lẫn khả năng tác động của từng kênh. Tại các quốc gia phát triển với thị trường tài chính phát triển, các kênh truyền tải CSTT đã được nhận diện và được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh nhưng tại các quốc gia đang phát triển, truyền tải CSTT vẫn đang được nhiều chủ thể như NHTW, các tổ chức tài chính và các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu. Thiếu hụt các nghiên cứu định lượng về truyền tải CSTT khiến cho mối liên kết giữa các công cụ CSTT, các chỉ tiêu tiền tệ và tổng cầu tại các quốc gia này chưa được đánh giá một cách rõ ràng, là một trong những nhân tố làm giảm đi tính hiệu quả trong công tác điều hành CSTT của NHTW. Khác với quan điểm tiền tệ truyền thống nhấn mạnh vào truyền tải CSTT qua bên nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, kênh tín dụng ngân hàng tập trung vào phân tích ảnh hưởng của CSTT tới nền kinh tế thông qua sự biến động của tài sản.
Việc dỡ bỏ những giả định không phù hợp với thực tế thị trường tiền tệ - tài chính (không có sự khác biệt trong các quyết định về cấu trúc vốn của người đi vay và cho vay ) và khai thác vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và cho vay đã dẫn đến sự ra đời của kênh tín dụng. Trong nghiên cứu của mình, Bernanke và Blinder (1992) phát triển lập luận về ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch đại bởi những thay đổi bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài [38]. Độ lớn của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn dĩ gây ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà người đi vay phải trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của NHTW sẽ kéo theo sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp đó, sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí lãi vay, nhu cầu và khả năng cấp tín dụng, rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế.
Hai tác giả đã lý giải tại sao điều hành CSTT lại có tác động đến phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị trường tín dụng thông qua hai kênh truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay và khả năng cấp 2 tín dụng của hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu khởi đầu này của Bernanke và Blinder (1995) đã mở ra hướng nghiên cứu mới về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng và được nhiều nhà nghiên cứu phát triển thêm. Tại Việt Nam, cùng với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác, CSTT thắt chặt trong năm 2011 và nửa đầu năm 2012 nhằm đối phó với sự gia tăng của lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô đã khiến cho hệ thống ngân hàng NHTM và doanh nghiệp suy yếu đi nhiều. Tình trạng thắt chặt tín dụng trong một thời gian dài đã để lại những hệ lụy to lớn cho nền kinh tế.
Về phía doanh nghiệp, hàng hóa ứ đọng, dòng vốn tắc nghẽn, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Về phía ngân hàng, căng thẳng thanh khoản, nợ xấu gia tăng, mức sinh lời giảm sút, mức độ đủ vốn bị suy giảm mạnh là những biểu hiện yếu kém phổ biến được bộc lộ rõ rệt. Trước tình hình này, Chính phủ đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp vĩ mô nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái, trong đó có chương trình tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Riêng đối với NHNN Việt Nam, công tác điều hành CSTT đã được thực hiên linh hoạt, chủ động hơn nhằm hạ thấp mặt bằng lãi suất, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ hệ thống NHTM và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, những nỗ lực kể trên của ngành ngân hàng chưa mang lại nhiều kết quả tích cực khi mà tín dụng tăng trưởng chậm chạp trong năm 2013 và 2014, thậm chí còn âm trong một vài tháng liên tiếp. Nhu cầu tín dụng lẫn khả năng và mong muốn cung ứng tín dụng đã bị giảm đi đáng kể khi xuất hiện nhiều yếu tố tác động tiêu cực tới các chủ thể đi vay và cho vay trong thị trường tín dụng. Thực trạng này cho thấy sự bất ổn trong truyền tải CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng, vốn dĩ là kênh truyền tải chính những tác động của CSTT đến nền kinh tế tại Việt Nam. Không chỉ tạo ra sự đánh đổi lớn cho nền kinh tế khi phải chuyển từ mục tiêu tăng trưởng sang mục tiêu kiềm chế lạm phát (và ngược lại), những yếu kém trong kênh truyền tải này còn gây ra sự mất ổn định cho hệ thống NHTM Việt Nam.
Vì vây, nghiên cứu sinh lựa chọn tiêu đề “Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan nghiên cứu Truyền tải CSTT là một trong những chủ đề nghiên cứu được ưa chuộng nhất trong các nghiên cứu về CSTT vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất, nắm bắt được mức độ tác động của CSTT tới nền kinh tế có vai trò quan trọng trong việc đánh giá định hướng điều hành của NHTW. Hiệu quả của một CSTT nới lỏng chưa chắc đã được bảo đảm ngay cả khi NHTW hạ thấp mức lãi suất điều hành khi mà tác động của CSTT lên nền kinh tế không được như kỳ vọng.
Thứ hai, trước khi đưa ra lựa chọn và sử dụng bất kỳ công cụ CSTT, NHTW cần đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của nó 3 tới hệ thống TCTD và nền kinh tế. Muốn làm được điều này, NHTW cần nắm được cơ chế truyển tải CSTT tới tình hình tài chính của hệ thống TCTD cũng như các biến số vĩ mô trong nền kinh tế như sản lượng và lạm phát. Quan điểm truyền thống về CSTT dựa trên giả định không có sự khác biệt trong các quyết định về cấu trúc vốn của người đi vay và cho vay. Do vậy, nền kinh tế có thể được mô hình hóa mà không phải xây dựng các giả định riêng cho từng nguồn vốn khác nhau.
Cụ thể, không tồn tại sự khác biệt về thuế, không chi phí giao dịch, không có tình trạng thông tin bất cân xứng và mọi mâu thuẫn về quyền lợi giữa các chủ thể kinh tế có thể được giải quyết mà không tốn phí tổn nào cả. Tuy nhiên, kể từ thập niên 1970, nhiều nhà nghiên cứu về CSTT đã xem xét tác động của việc dỡ bỏ những giả định của quan điểm truyền thống. Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và cho vay để đưa ra giả định có sự khác biệt giữa các loại tài sản tài chính như khoản vay ngân hàng, trái phiếu và cổ phiếu (thay vì chỉ giả định có sự khác biệt giữa các tài sản tài chính (sinh lãi) và tiền (không sinh lãi)) [35]. Trong nghiên cứu của mình, Bernanke và Blinder (1992) phát triển lập luận về ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch đại bởi những thay đổi bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài.
Độ lớn của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn dĩ gây ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà người đi vay phải trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của NHTW sẽ kéo theo sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp đó, sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí lãi vay, nhu cầu và khả năng cấp tín dụng, rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế. Hai tác giả đã lý giải tại sao điều hành CSTT lại có tác động đến phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị trường tín dụng thông qua hai kênh truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng [38]. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước a/ Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng Kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ ra cung tín dụng sẽ giảm xuống khi NHTW thắt chặt CSTT.
Quá trình này bắt đầu khi NHTW sử dụng các công cụ của CSTT để hút lượng tiền dự trữ ra khỏi hệ thống, khiến cho các ngân hàng còn ít vốn khả dụng để cho vay [35]. Mặc dù Romer và Romer (1990) cho rằng các ngân hàng có thể phản ứng lại bằng cách tăng các khoản huy động vốn không chịu quy định về dự trữ [109] nhưng do các khoản nợ này có chi phí cao nên CSTT thắt chặt vẫn có tác động làm giảm lượng vốn dành để cho vay đối với nền kinh tế [114]. 4 Một vài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu mảng của hệ thống ngân hàng để xác định mức độ chịu ảnh hưởng của khả năng cấp tín dụng trước việc NHTW thắt chặt CSTT. Kashyap và Stein (1995, 2000) phân tích kênh khả năng cấp tín dụng trên cơ sở tách biệt các ngân hàng thông qua tiêu chí về quy mô và thanh khoản.
Hai tác giả nhận thấy trong điều kiện CSTT thắt chặt, các khoản tín dụng của các ngân hàng lớn không bị ảnh hưởng nhiều nhưng các ngân hàng nhỏ lại điều chỉnh giảm mạnh các khoản tín dụng cấp ra nền kinh tế. Như vậy, các ngân hàng nhỏ phải đối mặt với vấn đề căng thẳng tín dụng do sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng với đặc điểm bảng cân đối tài sản thiếu tính thanh khoản (chi phí cho việc tiếp cận các khoản vốn bán buôn là lớn) [85, 86].