Chương 1: Cơ sở khoa học của chính sách thu hút nhân tài trong khu vực công. Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công ở tỉnh Bình Định. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công ở tỉnh Bình Định. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN TÀI VÀO KHU VỰC CÔNG 1.
Khái niệm, đặc điểm, tiêu chí, vai trò của việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào khu vực công 1. Khái niệm nhân tài, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao 1.Khái niệm nhân tài Khi bàn đến khái niệm “nhân tài”, có nhiều quan điểm khác nhau, xuất phát từ cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến một số cách hiểu sau đây: Theo tác giả Lê Thị Thanh Hòa, “theo nghĩa đen, nhân tài là con người có tài. Khi nói đến tài, ta chú ý đến khả năng hiểu biết, trình độ kiến thức chuyên môn và phương pháp xử lý của con người về một lĩnh vực công tác, một ngành nghề và có thể là về cả một công việc nhất định” [19, tr.
Theo hai tác giả Nguyễn Đắc Hưng, “thuật ngữ nhân tài không chỉ được dùng để chỉ những người có học vấn cao, hoặc có bằng cấp cao về mặt chuyên môn mà theo nghĩa rộng hơn còn bao hàm những người có tài thuộc mọi tầng lớp. Có thể hiểu nhân tài là những người có tài năng vượt trội, có những đóng góp lớn cho xã hội [22, tr. Trong lịch sử Việt Nam, khái niệm nhân tài thường được ít sử dụng mà thay vào đó là khái niệm “hiền tài”. Trong cuốn “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám”, Giáo sư Trần Văn Giàu dẫn lại chỉ dụ của Vua Tự Đức nhà Nguyễn về nhân tài như sau: “Nhân tài là những người hoặc đức hạnh đầy đủ có thể làm mẫu mực; hoặc tài trí giỏi giang có thể yên trong nước, phục người ngoài; hoặc chính sự tinh thông, có thể giúp cho nước giàu, dân mạnh; hoặc giấy tờ, lời lẽ thông thạo sâu rộng, tài có thể đi 10 sứ bốn phương, tự mình chuyên đáp ứng được; hoặc vừa giữ vững, vừa đánh dẹp, có thể làm như cái mộc, cái thành để trấn giữ muôn dặm; hoặc trí, nhân, dũng gồm đủ, có thể làm đại tướng giữ tiết việt được; hoặc kỹ nghệ hơn người, có thể xung phong đánh giặc” [16, tr.
Đây là cách liệt kê một số dạng nhân tài trong các lĩnh vực về đạo đức, văn hóa, trị nước, ngoại giao và quân sự với một số tiêu chí đơn giản, phù hợp với bối cảnh lúc đó. Từ những quan điểm nêu trên, có thể định nghĩa: nhân tài là người có năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ) để hoàn thành xuất sắc một hoặc một số nhiệm vụ nhất định trong một ngành, một lĩnh vực cụ thể, có lý tưởng chính trị, mục đích sống trong sáng vì xã hội, đóng góp tài năng của mình cho sự phát triển xã hội, được xã hội thừa nhận, trọng dụng và tôn vinh. Nhân tài là người hội tụ đủ cả năng lực và phẩm chất, vừa có đức vừa có tài. Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ nguồn nhân lực (NNL).
Theo truyền thống, NNL thường được gọi là lao động, như một nguồn vốn đầu vào của sản xuất bên cạnh các loại vốn vật chất khác. Cách hiểu thứ hai được sử dụng phổ biến hơn thiên về chất lượng của NNL là tất cả kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người, có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Trong đó, trình độ đào tạo được xem là một trong các tiêu chí quyết định tạo nên chất lượng, cơ cấu NNL. Xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực cùng với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ sự phát triển nói chung của các tổ chức, do vậy NNL được hiểu là "Nguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”.10] Theo Trần Thị Tâm Đan: “Nguồn nhân lục là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người 11 trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”.10] NNL cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Từ những quan niệm về NNL được nêu trên, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Cho đến nay, khái niệm NNLCLC chưa có sự thống nhất do có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Phạm Minh Hạc: "Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa".
Còn tác giả Đỗ Văn Đạo lại cho rằng: " Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao". [12] 12 Theo Nguyễn Huy Trung: " Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực đã qua đào tạo, có kiến thức tốt về một lĩnh vực công việc, thành thạo kỹ năng thực hiện công việc, có thể chất tốt và tiềm năng phát triển trong môi trường công việc để đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại cũng như tương lai của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Như vậy, khái niệm NNLCLC chỉ có tính chất tương đối, một người có thể tài năng trên lĩnh vực này nhưng lại bình thường trên các lĩnh vực khác. Vì thế, khi xem xét một người có thuộc NNLCLC hay không phải xác định tài năng của người đó trên một ngành, lĩnh vực, phạm vi nhất định.
Ngoài những quan niệm nêu trên, còn có những cách hiểu khác khi bàn về NNLCLC. Những thuật ngữ này có nội hàm hẹp hơn và cụ thể hơn để chỉ những người lao động có trình độ, có chất lượng, mang lại hiệu quả cao trong các lĩnh vực sản xuất. Bên cạnh đó, người ta cũng thường hay dùng thuật ngữ nhân tài, vĩ nhân để tôn vinh NNLCLC. Từ những quan niệm về NNLCLC của các tác giả nêu trên có thể đưa ra khái niệm sau đây: NNLCLC là nguồn nhân lực đáp ứng đồng thời các tiêu chí về chất lượng cao và trình độ cao - đó là nguồn lực con người được đào tạo và sử dụng có chất lượng và hiệu quả cao với tổng hợp các phẩm chất về nhân cách, tri thức sáng tạo, năng lực thực hành và thể lực.
NNLCLC có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải tập trung vào chất lượng. Khi nói đến nhân tài, cách hiểu chung nhất là người có tài năng. Tuy nhiên, nếu trong chính sách chỉ quan niệm thuần túy là người có tài năng thì sẽ rất hạn chế. Luận văn này tiếp cận thuật ngữ nhân tài với nghĩa là những người có tài năng đặc biệt trong một lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp nào đó, có đạo đức nghề nghiệp và các phẩm chất cần thiết, đáp ứng được các yêu cầu về lĩnh vực chuyên môn – nghề nghiệp và công việc cụ thể đòi hỏi.
13 Điều trên cũng đồng nghĩa nhân tài ở khu vực công cơ bản tương đồng với NNLCLC. Do đó, Luận văn này sử dụng thuật ngữ nhân tài tương đương với thuật ngữ NNLCLC trong các quy định của pháp luật thực định, trong đó người có tài năng được hiểu là phải gắn với các yếu tố liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn. Ngoài ra, có nhiều thuật ngữ khác cũng được sử dụng có lúc phân biệt, có lúc thay thế thuật ngữ nhân tài như hiền tài, người tài, người tài đức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và phù hợp với đối tượng nghiên cứu tại tỉnh Bình Định, ở giác độ tương thích thu hút nhân tài tương đồng với NNLCLC.
Vì vậy, để đơn giản hóa, toàn bộ luận văn sẽ sử dụng thuật ngữ NNLCLC thay cho nhân tài. Đặc điểm, tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao Bản thân NNLCLC là một bộ phận tinh túy nhất của NNL xã hội. Nên ngoài những đặc điểm chung của NNL xã hội thì NNLCLC còn có những đặc trưng riêng. Theo hướng tiếp cận và cách nhìn nhận của mỗi người sẽ xác định các đặc điểm của NNL một cách khác nhau.
Theo Francois Gagnes, có thể khái quát một số tiêu chí, đặc điểm để xác định người có tài năng đó là: - Chất lượng cao: Năng lực cao hơn đồng nghiệp. - Hiếm có: Trình độ kỹ xảo cao hơn đồng nghiệp. - Năng suất: Tạo ra sản phẩm với năng suất cao hơn đồng nghiệp. - Nổi trội: Kết quả công tác cao hơn.
- Giá trị: Kết quả công việc được xã hội chấp nhận mang lại hữu ích cho cuộc sống. [35, tr9,10] Cũng có thể xác định đặc điểm NNL theo ba phương diện: thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý xã hội.