CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Nguồn lực là những thành phần cốt lõi để phát triển nền kinh tế của một quốc gia, vùng, lãnh thổ và cả trong từng đơn vị, nó đảm bảo cho sự phát triển liên tục và bền vững. Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật chất và phi vật chất của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển. Trong cơ cấu các nguồn lực, mỗi nhóm nguồn lực có vị trí, vai trò và tầm quan trọng khác nhau, tùy thuộc vào thực trạng và chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, khi khoa học - công nghệ ngày càng phát triển, tri thức đã trở thành yếu tố quyết định của sự phát triển, thì nguồn lực con người luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc phát triển kinh tế, vì chính con người là nguồn gốc của sự phát triển khoa học - công nghệ, con người cũng là người sử dụng khoa học - công nghệ để phát triển kinh tế, và cũng chính là để phục vụ lại cho con người. Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực được xem xét ở hai khía cạnh.
Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn. Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực.
Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực tương lai. Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai, là tổng số những người trong độ tuổi lao động theo quy định của nhà nước và thời gian lao động họ có thể tham gia. (Nguồn: Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008.
Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực. Trường Đại học kinh tế quốc dân, trang 12-13). Nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến nay, khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đồng nhất do có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu về nguồn nhân lực chất lượng cao: Theo GS. Phạm Minh Hạc: Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào CNH, HĐH được mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh. Còn Đỗ Văn Đạo lại cho rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Quan niệm của TS.
Nguyễn Hữu Dũng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề). Theo Nguyễn Huy Trung: "Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực đã qua đào tạo, có kiến thức tốt về một lĩnh vực công việc, thành thạo kỹ năng thực hiện công việc, có thể chất tốt và tiềm năng phát triển trong môi trường công việc để đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại cũng như tương lai của tổ chức, cơ quan, đơn vị." Ngoài những quan niệm nêu trên, còn có những cách hiểu khác khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao. Những thuật ngữ này có nội hàm hẹp hơn và cụ thể hơn để chỉ những người lao động có trình độ, có chất lượng, mang lại hiệu quả cao trong các lĩnh vực sản xuất. Chẳng hạn, trong lĩnh vực sản xuất vật chất có những thuật ngữ như chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề.
hay trong lĩnh vực sản xuất tinh thần có những thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học, nhà khoa học, chuyên gia. Bên cạnh đó, người ta cũng thường hay dùng thuật ngữ nhân tài, vĩ nhân để tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ những quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao của các tác giả nêu trên có thể đưa ra khái niệm sau đây: Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng sáng tạo và ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ vào hoạt động thực tiễn nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Mặt khác, đây còn là những lao động có tác phong nghề nghiệp, tính kỷ luật cao, có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý chí tự lập, tự cường và có phẩm đạo đức tốt.
Nó là bộ phận quan trọng nhất của nguồn nhân lực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khu vực công. Theo khái niệm của Th.
Phạm Thị Trúc Hoa Quỳnh, Viện chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì khu vực công là tổng thể các tổ chức kinh tế - văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng thuộc sở hữu nhà nước; do Nhà nước đầu tư hoặc cấp phát kinh phí toàn bộ hay cho những bộ phận quan trọng nhất; Nhà nước trực tiếp quản lý điều hành các hoạt động, dịch vụ công phục vụ lợi ích chung của cộng đồng xã hội…Sử dụng khái niệm “khu vực công là có ý ngầm phân định với “khu vực tư” bao gồm các đối tượng (các đơn vị, tổ chức, công ty, doanh nghiệp, nhà cung cấp…)…tồn tại bên ngoài khu vực công. Hai khu vực công - tư chính là hai khu vực chính đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, không phân biệt quốc gia phát triển hay đang phát triển. Đặc điểm và vai trò của NNLCLC trong khu vực công. TS Nguyễn Minh Phương, do đặc thù của hệ thống chính trị nên nhân lực trong khu vực công ở nước ta bao gồm cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, tức là những người thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Và do vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao có những đặc điểm và vai trò sau: - Về đặc điểm: + Được đào tạo cơ bản (từ bậc đại học trở lên) về chuyên môn phù hợp vị trí việc làm, được bầu cử, phê chuẩn đảm nhiệm các chức vụ, chức danh (đối với cán bộ) hoặc bổ nhiệm vào ngạch công chức nhất định (đối với công chức) trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hay là những người giữ các chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị dự nghiệp công lập (đối với viên chức). + Nhân lực chất lượng cao trong khu vực công gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 + Được tuyển dụng (thu hút) gắn với việc sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đãi ngộ. + Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường chính trị vững vàng thể hiện thông qua tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần dân chủ, hợp tác và ý thức về tập thể, sẳn sàng phục vụ nhân dân.
+ Có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng làm việc nhan, hội nhập cao, có sáng kiến đột phá, sáng tạo để nâng cao hiệu quả công việc. + Chủ động hoặc tham gia giải quyết được các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; Tham mưu được cho Thủ trưởng những vấn đề quan trọng trong công tác chuyên môn. + Được đồng nghiệp tôn trọng trong công tác chuyên môn. - Về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công.
+ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ đó góp phần phát triển toàn bộ nguồn nhân lực xã hội. + Thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm chất lượng , hiệu quả các dịch vụ công cung ứng cho người dân và cộng đồng. + Góp phần đổi mới các tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, thúc đẩy tiến bộ, xã hội. + Tạo lập các ngành nghề hiện đại và thúc đẩy phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại.