CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ Đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế nên Chính phủ nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển luôn quan tâm đến việc huy động vốn, chuyển nguồn vốn huy động vào đầu tư phát triển theo mục tiêu kinh tế đã đề ra. Các nước thường ban hành những luật về thúc đẩy và khuyến khích đầu tư nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động đầu tư trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế của vùng miền và hướng đầu tư vào một số lĩnh vực, địa bàn ưu tiên phát triển nhất định của đất nước để tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đáp ứng những điều kiện nhất định để sớm thu hồi vốn đầu tư.Khái niệm về đầu tư Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư (Nguồn: Giáo trình kinh tế đầu tư – PGS.
TS Từ Quang Phương, PGS. TS Phạm Mạnh Hùng, NSX-NXB) Đầu tư theo nghĩa rộng: là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn lực.
6 Đầu tư theo nghĩa hẹp: là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Nó có những đặc điểm sau: - Trước hết phải có Vốn: Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư trước hết là quyết định việc sử dụng các nguồn lực được biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau như tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn ở đây có thể hiểu là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Vốn được hiểu là các nguồn lực sinh lợi dưới các hình thức khác nhau, nhưng vốn có thể xác định hình thức tiền tệ.
Vì vậy, các quyết định đầu tư thường được xem từ phương diện tài chính (chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có khả năng thực hiện bao nhiêu phần trăm, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi của một dự án là bao nhiêu…). Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện (kinh tế, xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính thì không thể thực hiện được trên thực tế. - Thời gian tương đối dài: Khác với các hoạt động thương mại, hoạt động chi tiêu tài chính thường từ 2 đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư.
Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư còn được coi là đời sống của dự án. Do tính chất lâu dài nên mọi sự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố. Khi đầu tư vào một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn đầu tư không phải là các nguồn lực 7 để dành, sẵn có mà nó có thể được huy động dưới nhiều hình thức khác nhau…). Vì vậy, nhà đầu tư luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai.
Bởi họ luôn mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai mà họ nhận được phải lớn hơn lợi ích hiện nay họ đang tạm thời phải hy sinh. - Lợi ích do đầu tư mang lại: Được biểu hiện trên hai mặt: + Lợi ích tài chính (lợi nhuận): ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, + Lợi ích kinh tế xã hội (chỉ tiêu kinh tế xã hội): ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng. Các đặc điểm trên cho thấy, đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và thực hiện trong một khoảng thời gian dài không cho phép nhà đầu tư tiên lượng được hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính.
Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà đầu tư. Nhà đầu tư cần có những biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế rủi ro để bảo toàn vốn và đạt được mục tiêu đầu tư. Khái niệm về chủ đầu tư Chủ đầu tư là người hay tổ chức đầu tư sở hữu vốn hoặc được giao vốn để triển khai xây dựng các công trình hay dự án. Chủ đầu tư là người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về chất lượng, tiến độ, hiệu quả đầu tư của các công trình.
Chủ đầu tư phải tuân thủ các quy định pháp luật trong quá trình triển khai dự án cũng như khắc phục những hậu quả của dự án nếu có. Chủ đầu tư được quyền dừng thi công xây dựng dự án đầu tư và yêu cầu khắc phục hậu quả khi thi dự án đó vi phạm các quy định về chất lượng, an toàn và vệ sinh môi trường. Chủ đầu tư có nhiệm vụ tìm kiếm cơ hội đầu tư và phân tích các yếu tố cấu thành để đạt được một dự án đầu tư hiệu quả, chi chí thấp, lợi nhuận cao, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp có hiệu quả vào 8 ngân sách nhà nước. Góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tổ chức thẩm định và phê duyệt các bước thiết kế, dự toán dự án. Tuỳ theo đặc điểm của dự án, Chủ đầu tư có thể uỷ quyền cho Ban Quản lý dự án thực hiện một hoặc toàn bộ các nhiệm vụ, quyền hạn của mình: – Phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời dự thầu, hồ sơ mời đấu thầu và kết quả đấu thầu đối với các gói thầu không sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước – Ký kết hợp đồng với các nhà thầu – Thanh toán cho nhà thầu theo tiến độ hợp đồng, theo biên bản nghiệm thu – Nghiệm thu để đưa công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng… * Trách nhiệm và quyền hạn của chủ đầu tư Tổ chức lập dự án đầu tư, tổ chức thực hiện, quản lý vốn đầu tư, trả nợ vốn vay đúng hạn và thực hiện các điều đã cam kết khi vay vốn. Chịu trách nhiệm thừa kế, quyền yêu cầu cơ quan quản lý cung cấp các thông tin cần thiết, được bảo toàn vốn đầu tư về pháp lý, lập bộ máy đủ năng lực quản lý. Khi Chủ đầu tư xây dựng công trình không đủ điều kiện năng lực thì người quyết định đầu tư sẽ thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án.
Tổ chức tư vấn được trông coi quản lý các dự án xây dựng công trình là quản lý công trình như của chính mình. Người quyết định đầu tư sẽ trực tiếp quản lý dự án khi Chủ đầu tư xây dựng công trình không có đủ điều kiện năng lực về quản lý dự án. Trường hợp Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì chủ đầu tư có thể thành lập Ban Quản lý dự án. Ban Quản lý dự án chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
* Chi phí và kết quả đầu tư - Chi phí đầu tư được hiểu một cách chung nhất là mọi nguồn lực (tiền vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, lao động, trí tuệ…) được sử dụng cho hoạt động đầu tư (bao gồm việc tạo ra TSCĐ, phương tiện và các điều kiện để đảm bảo hoạt động bình thường). Theo tính chất các loại chi phí có thể chia ra: 9 + Chi phí đầu tư cố định: Đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các cơ sở phụ trợ, tiện ích và các chi phí trước vận hành. Phần chi phí trước vận hành tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện phục vụ cho hoạt động đầu tư nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư. Các chi phí này thường gồm các khoản: Chi phí cho công tác chuẩn bị ban đầu, phát hiện dự án (Điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án…).
Chi phí cho tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Chi phí quản lý dự án, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật (đào tạo, huấn luyện …). Các chi phí tài chính (các khoản chi phí phát sinh từ việc sử dụng vốn: lãi vay, phí thu xếp tài chính, phí cam kết, phí bảo lãnh. + Vốn lưu động ban đầu: Là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu, các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính.
Nó gồm các khoản sau: Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu… cho một chu kỳ sản xuất kể cả dự trữ bảo hiểm cần thiết), Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho, Các khoản thuộc quỹ tiền mặt. Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể hoặc không có; có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu.