phần mở đầu và phần kết luận, hàm ý chính sách kết cấu luận án gồm các chương sau: Chƣơng 1: Các yếu tố ảnh hƣởng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài: Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Nội dung chính của chương là nghiên cứu tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các khung lý thuyết được xây dựng nhằm giải thích hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia và lý thuyết liên quan đến các yếu tố quyết định vị trí đầu tư của các công ty này. Trên cơ sở khung lý thuyết được tóm tắt, tác giả đã tiến hành tổng kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào một nhóm nước, khu vực hay tại một quốc gia cụ thể. Đây chính là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu, biến, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu cho nội dung phân tích các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian dòng vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam trong chương 3 và chương 4. Cuối cùng, từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến Việt Nam sẽ cho phép tác giả tìm ra khoảng trống trong nghiên cứu.
Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam Nội dung chính của chương phản ánh thực trạng xu hướng, kết cấu dòng chảy FDI vào Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2013 cũng như so sánh dòng vốn FDI vào Việt Nam với các nước trong khu vực. Ngoài ra, trên cơ sở dữ liệu được thu thập từ cuộc điều tra khảo sát trong 2 năm 2012 và 2013, kết quả phân tích đã phản ánh đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam hiện nay. Chƣơng 3: Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng thu hút dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam Trong chương này luận án đã đưa ra các giả thuyết cần kiểm định nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam. Trên cơ sở đó, xây dựng mô hình lý thuyết cũng như mô hình nghiên cứu thực nghiệm kết hợp với các phương pháp hồi quy khác nhau nhằm đưa ra kết quả kiểm định đáng tin cậy và hiệu quả nhất.
Vì hạn chế về dữ liệu của Việt Nam nên dữ liệu của các nước ASIA 24 (Việt Nam và 123doc --11-- 23 quốc gia đang phát triển khác thuộc khu vực Châu Á) đã được sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu này. Chƣơng 4: Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng phân bố không gian dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam Kế thừa kết quả phân tích trong chương 3, để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian dòng vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam luận án đã đưa ra 5 giả thuyết cần kiểm định. Nhìn chung, kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng sai phân GMM đã ủng hộ 4 trong 5 giả thuyết đưa ra liên quan đến chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương, động cơ tìm kiếm thị trường, động cơ tìm kiếm hiệu quả và hiệu ứng tích tụ FDI. Liên quan giả thuyết 5, biến FDI_1 được kiểm định không có ý nghĩa thống kê trong tác động lên biến phụ thuộc FDI ngay tại mức ý nghĩa 10%.
Chƣơng 5: Hàm ý chính sách Từ kết quả đạt được trong quá trình phân tích chương 2, 3 và 4, trong chương 5 một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư cũng như tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở cấp độ quốc gia và địa phương đã được đề xuất. 123doc --12-- CHƢƠNG 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 1. Giới thiệu Trên nền tảng lý thuyết về yếu tố quyết định vị trí FDI tác giả đã tiến hành thống kê các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nhóm nước, khu vực hay tại một quốc gia. Cụ thể, tác giả tập trung các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào nhóm nước đang phát triển và chuyển đổi, trong khi đó ở cấp độ khu vực tập trung khu vực Châu Á và Châu Phi.
Trung Quốc và Ấn Độ với thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế và thu hút dòng vốn FDI đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu ở cấp độ quốc gia. Ngoài ra, luận án có điểm qua một số nghiên cứu nổi bật về yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam nói chung và phân bố giữa các địa phương nói riêng. Cuối cùng, trên cơ sở tổng quan nền tảng lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tìm ra khoảng trống từ đó định hướng vấn đề nghiên cứu. Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã (đang) ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới.
Theo đó đã có nhiều quan điểm được đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này: Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Đối với quyền quản lý doanh nghiệp FDI, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996) có thể thực hiện bằng các cách như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. 123doc --13-- Dunning (1970) sử dụng một định nghĩa ngắn cho các công ty đa quốc gia (MNEs) là: "bất cứ công ty thực hiện hoạt động sản xuất tại nhiều hơn một quốc gia".
Những người khác, chẳng hạn như Vernon (1971) đã nhấn mạnh thêm vấn đề quy mô và cơ cấu tổ chức của các MNEs. Cụ thể, “Các tập đoàn đa quốc gia là các công ty lớn tổ chức các hoạt động của họ ở nước ngoài thông qua một bộ phận tổ chức tích hợp, được lan truyền quốc tế và việc đầu tư của họ được dựa trên các sản phẩm và thị trường tiêu thụ”. Lý thuyết đã chỉ ra rằng FDI thường được hình thành và sinh ra từ sự tương tác giữa lực lượng của nước chủ đầu tư và nước thu hút (ví dụ, Dunning, 1981, 1988; UNCTAD, 2006). Dòng vốn FDI sẽ chảy từ nước này sang nước khác và FDI xảy ra có thể chung qui là do ảnh hưởng của các yếu tố đẩy từ nước chủ đầu tư và yếu tố kéo của nước thu hút.
Một số yếu tố trong nước chủ đầu tư có xu hướng tạo động lực thúc đẩy hành vi đầu tư ra bên ngoài của FDI nhằm tìm kiếm một thị trường tiềm năng hơn hay tăng hiệu quả kinh doanh với chi phí sản xuất thấp hơn… ở nước thu hút. Sau đây là bảng mô tả các yếu tố “đẩy” và “kéo” dẫn đến xu hướng đầu tư của FDI.1: Yếu tố điều kiện “Đẩy – Kéo” của FDI Yếu tố “Đẩy” - Nƣớc chủ đầu tƣ Yếu tố “Kéo” - Nƣớc thu hút 1. Thị trƣờng Thị trường nước chủ đầu tư hạn chế Thị trường lớn và phát triển là điều và Thƣơng mại buộc công ty phải tìm kiếm một thị kiện tốt để thu hút các nhà đầu tư. trường mới.
Chi phí Sự khan hiếm các yếu tố đầu vào Nguồn lực tài nguyên sẵn có, chi phí sản xuất như nguồn tài nguyên, chi phí lao lao động thấp giúp giảm chi phí sản động cao gây ra xu hướng đầu tư ra xuất nên sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Doanh Xu hướng toàn cầu hóa và áp lực Những Hiệp ước thương mại, Đầu tư nghiệp địa cạnh tranh từ các doanh nghiệp địa song phương, đa phương tạo điều kiện phƣơng phương là động lực tác động công ty thuận lợi cho vốn đầu tư nước ngoài. tìm kiếm thị trường nước ngoài. Thể chế Chính sách hỗ trợ như cắt giảm chi Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư phí, nâng cao các khả năng hoạt động như chính sách tự do hóa và tư nhân doanh nghiệp.
hóa, ổn định chính trị, quản trị minh bạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, quyền sở hữu, v.v… (Nguồn: UNCTAD, 2006) Như vậy, FDI có thể xảy ra theo xu hướng tác động của cả hai nhóm yếu tố: yếu tố “đẩy” của nước chủ đầu tư và yếu tố “kéo” của nước thu hút cùng với sự quan tâm từ cả hai phía chính phủ của các quốc gia này. Các chính sách ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài được đưa ra bởi nước sở tại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ dựa trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao, chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc hứa hẹn lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài. Nước chủ đầu tư, tốt hơn hết, nên mở rộng sự hiểu biết của mình với một danh sách mở rộng hơn các yếu tố thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó nước thu hút cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả.
Cuối cùng tác động hỗ trợ từ cả hai phía hình thành những đặc điểm tiềm năng của dòng vốn FDI trong tương lai. Một chính sách khuyến khích phải được xây dựng với sự cân nhắc và nghiên cứu đầy đủ nhằm thu hút tối ưu hóa số lượng và chất lượng FDI. Theo Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 mà Quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua ngày 29/2/1987 có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”.