Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân: Nghiên cứu trường hợp các vùng kinh tế trọng điểm tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hồ Thị Hoài Thương, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Thùy Vinh tại Trường Đại học Ngoại thương, chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106), năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư công giữ vai trò xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tại Việt Nam, bốn vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ)—gồm vùng KTTĐ Bắc Bộ, vùng KTTĐ miền Trung, vùng KTTĐ phía Nam và vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)—với 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được xác định là các đầu tàu động lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, vai trò dẫn dắt của đầu tư công tại các vùng KTTĐ thời gian qua còn mờ nhạt (Trần Du Lịch, 2021). Kết cấu hạ tầng liên kết vùng như giao thông, cảng biển, đường sắt và đô thị chưa đồng bộ do thiếu cơ quan điều tiết, quy hoạch vùng (Trần Duy Đông, 2022). Nhu cầu vốn lớn cho các dự án liên kết vùng tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước, gây sức ép trên thị trường vốn vay và ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư tư nhân (Đỗ Thị Thanh Huyền & cộng sự, 2021). Trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine, việc thực thi thuế tối thiểu toàn cầu và dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, vấn đề quản lý đầu tư công để giảm hiệu ứng lấn át và tăng cường hiệu ứng bổ trợ đối với đầu tư tư nhân trở nên cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm:
- Thiếu các nghiên cứu chuyên sâu đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân ở cấp độ vùng kinh tế, đặc biệt là trường hợp 24 tỉnh/thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ tại Việt Nam.
- Thiếu các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định đồng thời cả hiệu ứng lấn át (crowding-out) và hiệu ứng bổ trợ (crowding-in) trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn, cũng như xác định các nhân tố điều tiết độ lớn của hai hiệu ứng này.
- Thiếu các công trình phân tách đầu tư tư nhân theo nguồn vốn thành khu vực doanh nghiệp và khu vực hộ gia đình, cũng như phân tích tác động riêng biệt của đầu tư công cho cơ sở hạ tầng (CSHT) tới các thành phần này.
Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ tại Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thực hiện đầu tư công nhằm thúc đẩy đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ đến năm 2030.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư công, đầu tư tư nhân, các kênh tác động qua lại và lý thuyết về vùng kinh tế trọng điểm.
- Thứ hai: Phân tích thực trạng và kiểm định định lượng tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân (tổng thể và theo từng thành phần) tại các vùng KTTĐ của Việt Nam giai đoạn 2010–2021.
- Thứ ba: Đề xuất các nhóm giải pháp sử dụng vốn đầu tư công nhằm thúc đẩy đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Thứ nhất: Đầu tư công tác động lấn át hay bổ trợ tới đầu tư tư nhân cũng như các thành phần của đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ của Việt Nam, và tác động này có sự khác biệt giữa ngắn hạn và dài hạn hay không?
- Thứ hai: Đầu tư công cho cơ sở hạ tầng ảnh hưởng như thế nào tới đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ của Việt Nam?
- Thứ ba: Chính sách đầu tư công tại các vùng KTTĐ cần được xây dựng như thế nào để thúc đẩy đầu tư tư nhân đến năm 2030?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ của Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào tác động của tổng đầu tư công và đầu tư công cho CSHT tới các thành phần của đầu tư tư nhân trong nước (khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực hộ gia đình). Luận án loại trừ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khỏi biến đầu tư tư nhân nhằm tập trung vào năng lực nội tại của nền kinh tế.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2021 (vùng KTTĐ ĐBSCL được thành lập tháng 4/2009; số liệu thống kê địa phương đầy đủ và đồng bộ từ năm 2010 đến 2021).
- Phạm vi không gian: 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc 4 vùng KTTĐ:
- Vùng KTTĐ Bắc Bộ (7 địa phương): Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc.
- Vùng KTTĐ miền Trung (5 địa phương): Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
- Vùng KTTĐ phía Nam (8 địa phương): TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang.
- Vùng KTTĐ ĐBSCL (4 địa phương): Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai chiều hướng tác động chính:
Các nghiên cứu về tác động lấn át (Crowding-out)
- Phạm vi quốc gia và nhóm quốc gia:
- Pradhan, Ratha & Sarma (1990) dùng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) tại Ấn Độ (1990–2000), chứng minh đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân mạnh nhất khi chính phủ tài trợ bằng vay nợ trên thị trường vốn.
- Bilgili (2003) nghiên cứu Thổ Nhĩ Kỳ (1988–2003) qua mô hình VECM, chỉ ra tăng đầu tư công làm giảm đầu tư tư nhân. Bahal & cộng sự (2015) dùng mô hình VECM tại Ấn Độ (1950–2012) cũng xác nhận tác động lấn át kéo dài.
- Nazmi & Ramirez (1997) dùng phương pháp 2SLS tại Mexico (1940–1991), kết luận đầu tư công có tác động lấn át đầu tư tư nhân.
- Everhart & Sumlinski (2001) với dữ liệu bảng 63 quốc gia đang phát triển (1970–2000) và Cavallo & Daude (2008) với mô hình GMM trên 116 quốc gia (1980–2006) chỉ ra hiệu ứng lấn át rõ rệt ở các nước có thể chế kém và tỷ lệ nợ công/GDP cao.
- Erden & Holcombe (2005) và Mahmoudzadeh & cộng sự (2013) dùng mô hình PVAR chỉ ra đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân ở các nước phát triển.
- Tại Việt Nam: Tô Trung Thành (2012) dùng mô hình VECM (1986–2010), cho thấy sau một thập niên, đầu tư công tăng 1% làm đầu tư tư nhân giảm 0,48%. Hoàng Dương Việt Anh (2013) dùng VAR tại miền Trung; Phạm Thị Linh (2016) dùng VAR (2004–2015) chỉ ra sự chèn lấn ở 3 khía cạnh: hoạt động, vốn và cơ hội. Các nghiên cứu của Lê Văn Cường (2010), Huỳnh Văn Mười Một (2017), Văn Hà & cộng sự (2022) đều ủng hộ giả thuyết lấn át.
- Phân tách theo hạng mục và nguồn vốn:
- Pereira (2000) tại Hoa Kỳ (1956–1997), Rahman & cộng sự (2015) tại Pakistan (1974–2010), Dada (2013) và Omitogun & cộng sự (2018) tại Nigeria chỉ ra đầu tư công cho hành chính, dịch vụ công cộng, quốc phòng lấn át đầu tư tư nhân.
- Tại Việt Nam: Nguyễn Thị Cành & cộng sự (2020) dùng FMOLS cho 16 ngành công nghiệp (1990–2016), Nguyễn Thị Thùy Liên (2022), Ngô Doãn Vịnh (2010), Ngô Thúy Quỳnh (2019), Bùi Minh Chuyên & Nguyễn Ngô Việt Hoàng (2022) khẳng định đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước gây lấn át đầu tư tư nhân.
- Theo ngành kinh tế: Saeed & cộng sự (2006) tại Pakistan, Fujii & cộng sự (2013) tại Nhật Bản, Pereira & Andraz (2003) tại Mỹ ghi nhận sự lấn át trong các ngành công nghiệp chế tạo, khai khoáng, truyền thông và thương mại.
- Theo khung thời gian: Castillo & cộng sự (2005), Fonseca (2009), Nguyễn Thị Thanh Huyền & cộng sự (2022), Phạm Thái Bình (2020) xác nhận đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân trong ngắn hạn. Ngược lại, Nguyễn Thị Chinh (2017) và Hùng Thanh & cộng sự (2021) chỉ ra tác động lấn át xảy ra trong dài hạn tại Việt Nam.
Các nghiên cứu về tác động bổ trợ (Crowding-in)
- Phạm vi quốc gia và nhóm quốc gia:
- Hatano (2010) tại Nhật Bản (1953–2004) bằng mô hình ECM và kiểm định nhân quả Granger cho thấy đầu tư công bổ trợ đầu tư tư nhân sau năm đầu tiên. Bahal & cộng sự (2015) tại Ấn Độ (1980–2012) qua SVECM cho thấy tăng 1 rupee đầu tư công kéo theo tăng 0,3; 1,24 và 1,07 rupee đầu tư tư nhân sau 4, 8 và 12 quý.
- Oshikoya (1994) trên 7 nước châu Phi, Ouédraogo & cộng sự (2019) trên 44 nước hạ Sahara qua mô hình MG và AMG, Kamps (2004b) trên 22 nước OECD, Afonso & Aubyn (2008) trên 14 nước châu Âu, Canada, Mỹ, Nhật Bản, Altin Gjini & Agim Kukeli (2012) trên 11 nước Đông Âu, Mario Alloza & cộng sự (2022) tại Tây Ban Nha qua mô hình SVAR đều ghi nhận tác động bổ trợ.
- Theo hạng mục cơ sở hạ tầng:
- Aschauer (1989a) nghiên cứu nhóm G-7 (1966–1985) khẳng định đầu tư hạ tầng phi quân sự bổ trợ mạnh mẽ cho đầu tư tư nhân. Sturm & cộng sự (1999) tại Hà Lan (1853–1953) phân biệt hạ tầng cơ bản (tác động dài hạn) và hạ tầng bổ sung (tác động ngắn hạn). Xu & Yan (2014) tại Trung Quốc (1980–2011) chỉ ra đầu tư cung cấp hàng hóa công bổ trợ tư nhân. Các nghiên cứu của Cavallo & cộng sự (2011), Saidjada & cộng sự (2016), Makuyana (2016) cũng đưa ra kết luận tương tự.
- Tại Việt Nam:
- Sử Đình Thành (2011) dùng SVAR (1990–2010), Nguyễn Thế Khang (2022) dùng FMOLS/DOLS trên 63 tỉnh (2000–2020), Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư & Lê Hoàng Phong (2014) dùng ARDL, Nguyễn Văn Bôn (2021), Lê Thanh Tùng (2022) đều chứng minh đầu tư công bổ trợ đầu tư tư nhân trong dài hạn.
- Nguyễn Thị Cành & cộng sự (2018) trên 22 ngành kinh tế chỉ ra vốn mồi cơ sở hạ tầng kích thích đầu tư tư nhân trong ngắn hạn. Nguyễn Thị Thùy Liên (2022) tính toán hệ số liên kết xuôi (FL) và liên kết ngược (BL) khẳng định đầu tư hạ tầng điện, vận tải, kho bãi, viễn thông kích thích đầu tư tư nhân phát triển.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu vào việc giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại cấp độ 4 vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam, ứng dụng mô hình kinh tế lượng phân tách đồng thời tác động ngắn hạn và dài hạn (mô hình PMG), kiểm định kênh tác động của đầu tư hạ tầng với mẫu nhỏ (kiểm định Juodis & cộng sự, 2021), đồng thời phân rã đầu tư tư nhân thành hai khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm đầu tư công: Luận án tổng hợp các định nghĩa của UN (2009), WB (2010), IMF (2012), OECD (2016), JICA (2018), UNCTAD (2008) và luật pháp Việt Nam. Đầu tư công được xác định là các khoản đầu tư sử dụng nguồn vốn thuộc khu vực Nhà nước nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công và không vì mục tiêu lợi nhuận.
- Khái niệm và cấu trúc đầu tư tư nhân: Dựa trên Luật Đầu tư 2020, Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Dân sự 2015, đầu tư tư nhân trong luận án là đầu tư khu vực ngoài Nhà nước trong nước, phân rã thành hai nhóm:
- Đầu tư doanh nghiệp (PIE): Vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước có đăng ký kinh doanh.
- Đầu tư hộ gia đình (PIH): Vốn đầu tư của các hộ gia đình thuần nông và hộ kinh doanh cá thể phi nông - lâm - ngư nghiệp có đăng ký chính thức.
- Các kênh truyền dẫn tác động:
- Hiệu ứng lấn át: Vận hành qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách bằng nợ vay hoặc thuế (Friedman, 1978; Carlson & Spencer, 1975 trong mô hình IS-LM; Ahmed & Miller, 1999) làm tăng cầu tiền, đẩy lãi suất thực tế tăng, làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực tư nhân; hoặc thông qua kênh cạnh tranh trực tiếp trong sản xuất hàng hóa thương mại (Khan & Kumar, 1997).
- Hiệu ứng bổ trợ: Vận hành qua việc cung cấp CSHT giao thông, năng lượng, viễn thông giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất cận biên của vốn tư nhân (Aschauer, 1989a; Hatano, 2010); tạo cầu thị trường cho sản phẩm tư nhân (Ramirez, 1994); và kích thích tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân (Reungsri, 2010).
- Các nhân tố điều tiết kênh tác động:
- Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế / Dòng vốn FDI (Obstfeld, 1998; Dehn, 2000; Harrison).
- Yếu tố thời gian ngắn hạn và dài hạn (Berg & cộng sự, 2019; Abiad & cộng sự, 2016).
- Độ nhạy cảm giữa đầu tư tư nhân và lãi suất, gắn liền với mức độ phát triển của hệ thống tài chính (Carlson & Spencer, 1975).
- Ngoại ứng tích cực của danh mục đầu tư công, đặc biệt là cơ sở hạ tầng và năng lượng tái tạo (Romer, 1986; Batini & cộng sự, 2021).
- Tính bất ổn của kinh tế vĩ mô (Bloom, 2018; Bachmann & cộng sự, 2012).
- Lý thuyết về vùng và vùng kinh tế trọng điểm: Khái niệm vùng theo Harmaakorpi & Pekkarinen (2002), Dunford (2015), Luật Quy hoạch 2017; khái niệm vùng kinh tế theo Alaev (1983), Fligstein & cộng sự (2002), Crone (2003), Trần Văn Thông (1998), Nguyễn Quốc Toàn (2020).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa tài liệu lý luận và thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích cơ cấu, tốc độ tăng trưởng, quy mô vốn đầu tư qua bảng số liệu và biểu đồ.
- Phương pháp định lượng:
- Mô hình kinh tế lượng: Luận án thiết lập mô hình hồi quy dạng bảng đa biến, biến phụ thuộc là đầu tư tư nhân (PI, PIE, PIH), biến độc lập chính là đầu tư công (PU) và đầu tư công cho CSHT, cùng các biến kiểm soát: Lãi suất thực tế (IR), Tổng sản phẩm địa phương (GRDP), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Lạm phát (INF).
- Phương pháp ước lượng nhóm trung bình gộp (Pooled Mean Group - PMG): Áp dụng trên nền tảng mô hình Panel ARDL. Kỹ thuật này cho phép các hệ số hồi quy ngắn hạn, tốc độ điều chỉnh sai số và phương sai sai số biến thiên tự do giữa các tỉnh/vùng, nhưng áp đặt ràng buộc đồng nhất đối với các hệ số tác động dài hạn.
- Kiểm định nghiệm đơn vị và đồng liên kết dạng bảng: Sử dụng kiểm định tính dừng bảng và kiểm định đồng liên kết để đảm bảo tính vững của mô hình ước lượng dài hạn.
- Kiểm định phi nhân quả Granger trên dữ liệu bảng của Juodis, Karavias & Sarafidis (2021): Sử dụng để đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư công cho CSHT và đầu tư tư nhân trong điều kiện chuỗi dữ liệu CSHT cấp tỉnh có số lượng quan sát ngắn và cỡ mẫu nhỏ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp dạng bảng cân bằng của 24 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ trong giai đoạn 2010–2021. Nguồn thu thập gồm:
- Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê 24 tỉnh/thành phố.
- Báo cáo quyết toán chi ngân sách nhà nước của Sở Tài chính 24 tỉnh/thành phố.
- Dữ liệu lãi suất thực tế từ Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài Luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân theo 4 trục nội dung: phạm vi nghiên cứu (quốc gia, liên quốc gia), phân tách hạng mục/nguồn vốn, phân tách theo ngành kinh tế, và phân tích theo độ trễ thời gian (ngắn hạn, dài hạn). Trên cơ sở đó, tác giả phân tích và chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu về mặt nội dung (cấp độ vùng kinh tế trọng điểm, phân tách doanh nghiệp - hộ gia đình, nhân tố điều tiết) và phương pháp tiếp cận (tách biệt tác động ngắn hạn/dài hạn bằng PMG, xử lý mẫu nhỏ đối với hạ tầng bằng kiểm định Juodis & cộng sự, 2021).
Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân và vùng kinh tế trọng điểm
Chương 2 trình bày khung lý thuyết toàn diện về hai chủ thể đầu tư. Luận án phân tích cơ chế hình thành hiệu ứng lấn át (qua kênh lãi suất, tài trợ nợ, tăng thuế, mô hình IS-LM và cạnh tranh thị trường sản phẩm) và hiệu ứng bổ trợ (qua kênh ngoại ứng cơ sở hạ tầng, cầu mua sắm chính phủ và gia tăng sản lượng tiềm năng). Chương này cũng phân tích vai trò của các yếu tố điều tiết như dòng vốn FDI, độ mở kinh tế, độ nhạy cảm lãi suất, chất lượng thể chế và tính bất ổn vĩ mô. Đồng thời, tác giả làm rõ bản chất lý luận của vùng kinh tế trọng điểm với tư cách là cực tăng trưởng và đầu tàu liên kết lan tỏa.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng khung phân tích, thiết lập các giả thuyết nghiên cứu (H1: đầu tư công bổ trợ đầu tư tư nhân trong dài hạn; H2: đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân trong ngắn hạn; H3: đầu tư công cho CSHT thúc đẩy đầu tư tư nhân), đặc tả các mô hình kinh tế lượng Panel ARDL, lựa chọn phương pháp ước lượng PMG và kiểm định phi nhân quả Granger của Juodis & cộng sự (2021). Tác giả mô tả chi tiết quy trình thu thập, xử lý và làm sạch dữ liệu bảng cân bằng từ 24 tỉnh/thành phố trong 12 năm (2010–2021).
Chương 4: Thực trạng đầu tư công và đầu tư tư nhân tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam
Chương 4 phân tích bức tranh kinh tế và thực trạng đầu tư tại 4 vùng KTTĐ giai đoạn 2010–2021 thông qua hệ thống số liệu thống kê mô tả.
| Chỉ tiêu phân tích chính |
Thực trạng tại 4 vùng KTTĐ giai đoạn 2010–2021 |
| Quy mô và tăng trưởng GRDP |
Vùng KTTĐ phía Nam và Bắc Bộ chiếm tỷ trọng GRDP chi phối; vùng miền Trung và ĐBSCL có quy mô nhỏ hơn. |
| Cơ cấu vốn đầu tư công |
Hơn 95% vốn đầu tư công tại các vùng KTTĐ tập trung vào xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật. |
| Nguồn vốn đầu tư công |
Nguồn chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước địa phương chiếm tỷ trọng chủ đạo nhưng chịu áp lực cân đối lớn. |
| Cơ cấu đầu tư tư nhân |
Đầu tư doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn tại vùng Bắc Bộ và phía Nam; đầu tư hộ gia đình chiếm tỷ trọng đáng kể tại vùng ĐBSCL và miền Trung. |
| Thực trạng liên kết vùng |
Thiếu thể chế điều phối quy hoạch hạ tầng liên kết vùng đồng bộ, dẫn đến dàn trải nguồn vốn và giảm hiệu quả lan tỏa. |
Chương 5: Phân tích định lượng tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam
Chương 5 trình bày kết quả ước lượng kinh tế lượng từ mô hình PMG và kiểm định phi nhân quả Granger:
- Kiểm định nghiệm đơn vị và đồng liên kết: Dữ liệu bảng thỏa mãn điều kiện dừng và tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân cùng các biến kiểm soát.
- Tác động dài hạn (Ước lượng PMG):
- Trên tổng thể 4 vùng KTTĐ, đầu tư công có tác động bổ trợ có ý nghĩa thống kê đối với tổng đầu tư tư nhân trong dài hạn.
- Khi phân tách theo thành phần, đầu tư công tạo hiệu ứng bổ trợ mạnh mẽ và rõ nét đối với đầu tư khu vực doanh nghiệp (PIE) và đầu tư khu vực hộ gia đình (PIH).
- Tác động ngắn hạn (Ước lượng PMG):
- Trong ngắn hạn, hệ số ước lượng cho thấy sự tồn tại của hiệu ứng lấn át tại một số vùng do độ trễ giải ngân, áp lực huy động vốn và các công trình hạ tầng chưa hoàn thiện để phát huy giá trị sử dụng.
- Mức độ lấn át ngắn hạn có sự phân hóa rõ rệt giữa 4 vùng KTTĐ tùy thuộc vào đặc thù cấu trúc kinh tế và môi trường tín dụng địa phương.
- Kiểm định phi nhân quả Granger đối với hạ tầng (Juodis & cộng sự, 2021):
- Kết quả kiểm định xác nhận tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ đầu tư công cho cơ sở hạ tầng tới đầu tư tư nhân tổng thể cũng như đầu tư của khu vực doanh nghiệp tại các vùng KTTĐ.
Chương 6: Giải pháp thực hiện đầu tư công nhằm thúc đẩy đầu tư tư nhân tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam
Chương 6 phân tích bối cảnh phát triển mới và đề xuất định hướng, chính sách đầu tư công đến năm 2030:
- Định hướng chung: Nâng cao chất lượng lập kế hoạch đầu tư công trung hạn; tập trung vốn vào các dự án hạ tầng giao thông kết nối liên vùng có tính lan tỏa cao; đổi mới thể chế điều phối vùng KTTĐ.
- Nhóm giải pháp chung cho 4 vùng KTTĐ:
- Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, công khai minh bạch thông tin dự án nhằm giảm thiểu rủi ro cho khu vực tư nhân.
- Phát triển thị trường tài chính, đa dạng hóa các công cụ nợ công để giảm áp lực vay nợ chèn lấn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp tư nhân.
- Đẩy mạnh mô hình đối tác công tư (PPP) trong xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Nhóm giải pháp đặc thù cho từng vùng KTTĐ:
- Vùng KTTĐ Bắc Bộ: Tập trung hạ tầng logistic, khu công nghệ cao, chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ kết nối Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
- Vùng KTTĐ miền Trung: Hoàn thiện hạ tầng cảng biển nước sâu, khu kinh tế ven biển, liên kết các trung tâm công nghiệp dọc hành lang kinh tế Đông - Tây.
- Vùng KTTĐ phía Nam: Tháo gỡ điểm nghẽn giao thông kết nối TP. Hồ Chí Minh với các tỉnh Đông Nam Bộ, phát triển hạ tầng logistic và trung tâm tài chính quốc tế.
- Vùng KTTĐ ĐBSCL: Ưu tiên vốn đầu tư công cho hạ tầng thủy lợi, ứng phó biến đổi khí hậu, hệ thống giao thông kết nối trung tâm Cần Thơ với các vùng nguyên liệu nông nghiệp và mô hình cánh đồng lớn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về vùng, vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm; đồng thời nhận diện chi tiết các kênh truyền dẫn tác động (kênh lãi suất, kênh hàng hóa công, kênh ngoại ứng hạ tầng) và các yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân.
- Luận án xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh, kết hợp lý thuyết tăng trưởng với lý thuyết kinh tế vĩ mô về hiệu ứng lấn át và bổ trợ, áp dụng mô hình Panel ARDL ước lượng bằng phương pháp PMG để phân tách rành mạch tác động trong ngắn hạn và dài hạn.
- Luận án ứng dụng phương pháp kiểm định phi nhân quả Granger trên dữ liệu bảng của Juodis & cộng sự (2021) để đánh giá tác động của đầu tư công cho CSHT trong điều kiện chuỗi số liệu mẫu nhỏ cấp tỉnh.
Đóng góp về mặt thực nghiệm và thực tiễn
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm toàn diện đầu tiên trên bộ dữ liệu 24 tỉnh/thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ giai đoạn 2010–2021, chứng minh rằng đầu tư công tạo hiệu ứng bổ trợ đầu tư tư nhân trong dài hạn nhưng có thể gây lấn át trong ngắn hạn.
- Phân tích chi tiết sự khác biệt về tác động của đầu tư công tới hai thành phần nguồn vốn tư nhân trong nước: khu vực doanh nghiệp (PIE) và khu vực hộ gia đình (PIH), đồng thời chỉ ra sự phân hóa tác động giữa từng vùng KTTĐ.
- Chứng minh vai trò nhân quả của đầu tư công cho cơ sở hạ tầng trong việc kích hoạt dòng vốn đầu tư tư nhân tại các vùng động lực kinh tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách thực hiện đầu tư công phân tầng: nhóm giải pháp tổng thể cho cả 4 vùng KTTĐ và nhóm giải pháp chuyên biệt phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của từng vùng KTTĐ đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2010–2021 do tính sẵn có và thời điểm công bố số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê và các địa phương tại thời điểm hoàn thành luận án.
- Số liệu đầu tư công cho cơ sở hạ tầng cấp tỉnh chưa được tách bạch liên tục và chi tiết qua nhiều năm, buộc tác giả phải sử dụng kỹ thuật kiểm định phi nhân quả cho mẫu nhỏ thay vì ước lượng tham số hồi quy đầy đủ bằng mô hình PMG.
- Thành phần đầu tư của hộ gia đình (PIH) mới chỉ thu thập được đối với nhóm hộ thuần nông và hộ kinh doanh cá thể có đăng ký chính thức, chưa bao quát được khu vực hộ kinh doanh phi chính thức do rào cản dữ liệu thống kê.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Cập nhật chuỗi dữ liệu sau năm 2021 khi Tổng cục Thống kê công bố các niên giám thống kê mới.
- Mở rộng khảo sát định lượng trực tiếp đối với khu vực kinh tế hộ gia đình phi chính thức.
- Đi sâu phân tích tác động của các hình thức đầu tư hợp tác công tư (PPP) trong từng phân ngành hạ tầng cụ thể (năng lượng tái tạo, logistic số, giao thông đô thị).
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kinh tế lượng hiện đại cho dữ liệu bảng (mô hình Panel ARDL/PMG và kiểm định phi nhân quả Granger của Juodis & cộng sự, 2021), đặc biệt trong các đề tài nghiên cứu kinh tế phát triển, tài chính công và kinh tế vùng.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tổng quan tài liệu phong phú, hệ thống hóa chi tiết các trường phái tranh luận về hiệu ứng lấn át và bổ trợ của chi tiêu chính phủ đối với đầu tư tư nhân.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách: Luận án cung cấp căn cứ thực nghiệm giá trị cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ban chỉ đạo điều phối các vùng kinh tế trọng điểm và Ủy ban nhân dân 24 tỉnh/thành phố trong việc phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn, cơ cấu lại nguồn vốn ngân sách, giảm thiểu tác động lấn át tín dụng ngắn hạn và tối ưu hóa hạ tầng liên kết vùng để thu hút nguồn lực tư nhân.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia đầu tư tư nhân thành các thành phần nào và vì sao loại trừ dòng vốn FDI?
Luận án phân chia đầu tư tư nhân trong nước thành hai thành phần theo nguồn vốn: đầu tư khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (PIE) và đầu tư khu vực hộ gia đình (PIH). Luận án loại trừ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để tập trung đánh giá chính xác năng lực nội tại và phản ứng của khu vực kinh tế tư nhân trong nước trước các cú sốc đầu tư công, đồng thời xem FDI là một biến kiểm soát độc lập điều tiết môi trường đầu tư.
2. Tại sao luận án lựa chọn mô hình PMG (Pooled Mean Group) thay vì các mô hình dữ liệu bảng truyền thống như POLS, FEM, REM hay GMM?
Các phương pháp bảng truyền thống (POLS, FEM, REM, GMM, FMOLS, DOLS) có hạn chế là không tách biệt được tác động ngắn hạn và dài hạn của chuỗi số liệu. Mô hình PMG trên nền tảng Panel ARDL cho phép các hệ số ngắn hạn, sai số điều chỉnh và phương sai khác biệt linh hoạt giữa các đơn vị bảng (tỉnh/vùng), đồng thời áp đặt ràng buộc đồng nhất cho hệ số tác động dài hạn, qua đó phản ánh toàn diện bản chất tác động của đầu tư công.
3. Kênh truyền dẫn nào giải thích cho hiện tượng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân trong ngắn hạn theo luận án?
Trong ngắn hạn, khi chính phủ mở rộng đầu tư công nhưng tài trợ bằng cách vay nợ trên thị trường tài chính hoặc hệ thống ngân hàng thương mại, cầu vốn tăng làm lãi suất thực tế tăng lên (theo mô hình IS-LM). Do các doanh nghiệp tư nhân phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, chi phí vốn vay tăng làm giảm lợi nhuận kỳ vọng và thu hẹp quy mô đầu tư tư nhân. Đồng thời, các dự án hạ tầng trong ngắn hạn chưa hoàn thành nên chưa tạo ra ngay ngoại ứng tích cực để bù đắp chi phí.
4. Vì sao tác giả sử dụng kiểm định phi nhân quả Granger của Juodis, Karavias & Sarafidis (2021) đối với biến đầu tư cơ sở hạ tầng?
Số liệu chi đầu tư công cho cơ sở hạ tầng tại các địa phương của Việt Nam không liên tục và có số lượng quan sát ngắn theo thời gian, không đủ bậc tự do để ước lượng mô hình PMG. Kiểm định của Juodis & cộng sự (2021) được thiết kế chuyên biệt cho dữ liệu bảng có kích thước thời gian nhỏ (T nhỏ) và hoạt động tốt cả trong trường hợp các hệ số hồi quy là đồng nhất lẫn không đồng nhất.
5. Giai đoạn nghiên cứu của luận án là giai đoạn nào và tại sao lại chọn mốc bắt đầu từ năm 2010?
Giai đoạn nghiên cứu của luận án là từ năm 2010 đến năm 2021. Mốc 2010 được lựa chọn vì vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập vào tháng 4 năm 2009, do đó việc thu thập dữ liệu đồng bộ cho cả 4 vùng KTTĐ với đầy đủ 24 tỉnh, thành phố chỉ có thể thực hiện nhất quán từ năm 2010.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thị Hoài Thương đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực nghiệm về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại 24 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam giai đoạn 2010–2021. Thông qua phương pháp ước lượng PMG và kiểm định phi nhân quả bảng mẫu nhỏ, công trình đã chứng minh đầu tư công tạo hiệu ứng bổ trợ đầu tư tư nhân trong dài hạn nhưng tồn tại hiệu ứng lấn át trong ngắn hạn, đồng thời khẳng định vai trò then chốt của đầu tư cơ sở hạ tầng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng các giải pháp cơ cấu lại đầu tư công, nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách và hoàn thiện thể chế liên kết vùng nhằm huy động tối đa nguồn lực tư nhân phục vụ phát triển kinh tế đến năm 2030.