Chương 1: Cơ sở lý luận về môi trường FDI Chương 2: Nghiên cứu môi trường FDI của Malaysia giai đoạn năm 2012 - 2015 Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Malaysia cho Việt Nam Luan van 1 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƢỜNG FDI 1. Một số h i niệm 1. Khái niệm đầu tƣ Theo Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2005 thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư b vốn b ng các loại tài sản hữu hình ho c vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Trong phạm vi một quốc gia, đầu tư có thể chia ra: Đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Phân loại theo dòng chảy của vốn đầu tư, một quốc gia có thể là nước nhận đầu tư hoặc là nước đầu tư.
Xét về phương thức quản lý vốn đầu tư, đầu tư quốc tế bao gồm các hình thức như: Đầu tư gián tiếp nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tín dụng thương mại quốc tế…Ngày nay, Đầu tư nước ngoài là một trong những hình thức cơ bản của hoạt động kinh tế quốc tế và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong tổng đầu tư do xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp phản ánh mục tiêu đạt được một lợi ích lâu dài của một thực thể thường trú của một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp lưu trú trong một nền kinh tế khác (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp). "Lợi ích lâu dài" ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và sự ảnh hưởng đánh kể đến việc quản lý sau này. (OEDC 2008, tr 48-49) Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Luan van 2 Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF): Đầu tư trực tiếp là một loại hình đầu tư xuyên biên giới gắn với một đối tượng cư trú trong một nền kinh tế có quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý của một doanh nghiệp đang cư trú tại một nền kinh tế khác (IMF 2010, tr 100).
Còn ở Việt Nam, Luật Đầu tư 2005 có những định nghĩa như sau: Điều 3.2: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.6: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.12: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư. Luật đầu tư 2014 của Việt Nam lại không có định nghĩa “đầu tư trực tiếp” hay “đầu tư nước ngoài” mà chỉ có khái niệm Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Như vậy, FDI xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó. Chúng ta có thể thấy mỗi định nghĩa có thể có các cách diễn đạt khác nhau tuy nhiên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của FDI bao gồm: (1) FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận; (2) Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một t lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư; (3) Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về việc lỗ lãi; (4) FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua máy móc thiết bị, phát minh, sáng chế… 1.
Khái niệm môi trƣờng đầu tƣ Khi đứng trước một quyết định đầu tư nhằm thu lại lợi nhuận từ đồng vốn mình bỏ Luan van 3 ra, bất cứ nhà đầu tư nào cũng sẽ đứng trước câu hỏi đầu tiên đó là “đầu tư ở đâu?” cho dù đó là vốn ODA, FDI hay là các nguồn vốn nước ngoài mang tính thương mại khác. Kinh nghiệm thu hút các nguồn tài chính nước ngoài lẫn trong nước chỉ ra rằng việc quyết định điểm đến của các nhà đầu tư lại phụ thuộc rất nhiều vào môi trường đầu tư. Tại Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thực thi chính sách đổi mới mở cửa hội nhập với thế giới thì vấn đề hoàn thiện môi trường đầu tư là việc làm tất yếu để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và nó đã thực sự đem lại hiệu quả. Môi trường đầu tư là một thuật ngữ không phải mới mẻ nhưng đến nay vẫn có rất nhiều tranh luận về khái niệm này.
Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Sau đây là một số khái niệm về môi trường đầu tư: - Môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố đ c thù địa phương hình thành nên các cơ hội và động cơ để doanh nghiệp có thể đầu tư một cách có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất. (World bank 2005, trang 1) - Môi trường đầu tư là một danh mục chính sách, quy định và các yếu tố thể chế cung cấp những biện pháp khuyến khích đầy đủ và đủ mạnh để thúc đẩy khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án xã hội mong muốn. (Weingast, 1992, tr1) - Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố, điều kiện và chính sách của nước tiếp nhận đầu tư chi phối đến hoạt động đầu tư nước ngoài.
(Nguyễn Văn Tuấn 2005) - Môi trường đầu tư là một tổng thể, gồm các yếu tố vật chất, luật pháp, kinh tế và chính trị giúp một quốc gia trở thành điểm thu hút vốn đầu tư nước ngoài và là địa điểm mà các doanh nghiệp trong nước dù có quy mô khác nhau, hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, đều mong muốn được đầu tư. (NCIF, 2006, tr1) Trong các khái niệm trên có khái niệm chỉ giới hạn tới hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, có khái niệm lại đề cập tới hoạt động đầu tư trong phạm vi một quốc gia, cả trong nước và nước ngoài. Trong khuôn khổ luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu môi trường đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư và ảnh hưởng của nó tới thu hút vốn FDI vì vậy tác giả xin đưa ra khái niệm môi trường đầu tư như sau: Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư tại quốc gia đó. Khái niệm môi trƣờng FDI Từ khái niệm môi trường đầu tư ở phần trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm môi trường FDI như sau: Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng hòa các yếu tố của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư và bảo đảm khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoài.
Vốn đầu tư nước ngoài ở đây được hiểu là tiền và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh. Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành trên cơ sở của việc hình thành môi trường đầu tư quốc tế, môi trường kinh doanh của nước nhận đầu tư. Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia không thể tách rời khỏi môi trường đầu tư quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay. Môi trường đầu tư quốc tế là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng tới các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu.
(Phùng Xuân Nhạ, 2001) Nó bao gồm các nhóm yếu tố về tình hình chính trị, chính sách-pháp luật, vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, các đặc điểm văn hóa - xã hội ở nước nhận đầu tư; các yếu tố về thay đổi chính sách vĩ mô, các hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của Chính phủ và tiềm lực kinh tế - khoa học công nghệ ở nước đầu tư và các yếu tố thuộc về môi trường quốc tế như xu hướng đối thoại chính trị giữa các nước, liên kết khu vực, tăng trưởng của các nhà đầu tư và tốc độ của toàn cầu hóa. Đặc điểm của môi trƣờng I 1. Đặc điểm của môi trƣờng đầu tƣ 1.1 MTĐT có tính tổng hợp MTĐT là một tổng thể do nhiều yếu tố như tự nhiên, chính trị pháp luật; kinh tế; văn hóa cùng ảnh hưởng đan xen đến lưu lượng cũng như xu hướng đầu tư. Trong rất nhiều yếu tố này, mặc dù tác động của mỗi yếu tố đến lưu lượng, xu hướng và lợi nhuận đầu tư là khác nhau nhưng chúng đều là những yếu tố bắt buộc để tạo nên một môi trường đầu tư tốt và hoàn chỉnh.
Vì vậy, các nhà đầu tư khi đưa ra quyết sách đầu tư cần xem xét các yếu tố một Luan van 5 cách toàn diện chứ không chỉ xem xét độc lập từng yếu tố. Đối với nước chủ nhà, khi cải thiện MTĐT cũng cần xem xét ảnh hưởng của quá trình cải thiện này tới các đối tượng khác nhau và trong tổng thể của nền kinh tế. (李尔华-Lý Nhĩ Hoa 2005, tr.