phần mở đầu, kết luận, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương 10 tiết 9 z Chƣơng 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI; CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhiều tổ chức quốc tế, quốc gia trên thế giới đưa ra nhằm mục đích hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về FDI, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế. Sau đây là một số định nghĩa, quan điểm tiêu biểu về đầu tư trực tiếp nước ngoài: + Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF): “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách hiệu quả doanh nghiệp” [26, tr.27] + Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) cho rằng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một nhà đầu tư hoặc một công ty mẹ đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác.28] + Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư lớn nhất trên thế giới đã đưa ra định nghĩa sau: “FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài”.29] + Theo quan điểm của Việt Nam hiện nay: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà nhà đầu tư nước ngoài (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
[20, điều 3] 10 z Qua các định nghĩa về FDI trên có thể rút ra định nghĩa khái quát về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ, hơặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập và kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi. Bản chất, đặc điểm Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự tìm kiểm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài thông qua di chuyển vốn (tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý) từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư ở đây bao gồm tổ chức hay cá nhân chỉ mong muốn đầu tư khi họ cho rằng khoản đầu tư đó có thể đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau: - FDI là dự án mang tính lâu dài.
- FDI là dự án có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài. - Đi kèm với dự án FDI là 3 yếu tố: Hoạt động thương mại, chuyển giao công nghệ, di cư lao động quốc tế. - FDI là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật” và “nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật”. Trong nền kinh tế hiện đại có một số yếu tố liên quan đến kỹ thuật sản xuất, kinh doanh đã buộc nhiều nhà sản xuất phải chọn phương thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như một điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của mình.
Ngoài ra đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp thay đổi được dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận ở nước có trình độ phát triển thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất.33] - FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và một bên kia là nước tiếp nhận đầu tư.108] 11 z - FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa và quan niệm hội nhập kinh tế về đầu tư. Vai trò và thách thức của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò - Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: + Đầu tư trực tiếp nước ngoài bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế: Tăng trưởng kinh tế cao thường gắn với tỷ lệ đầu tư cao. Vốn đầu tư được huy động chủ yếu từ hai nguồn trong nước và nước ngoài.
Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động đầu tư trực tiếp (FDI). So với vốn hình thành do đầu tư gián tiếp và vay thương mại thì vốn từ FDI có các lợi thế: Không tạo ra khoản nợ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư; Lợi nhuận chỉ được chuyển về nước khi dự án đầu tư tạo ra lợi nhuận và một phần lợi nhuận được nhà đầu tư sử dụng để tái đầu tư; Vốn FDI thường ổn định và lâu dài hơn. Đối với một nước đang phát triển thì cả vốn và kỹ thuật đều nghèo nên vốn FDI càng có một vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy kinh tế.
+ Góp phần vào quá trình phát triển công nghệ: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua hiệu ứng tích cực. Công nghệ có vai trò hết sức quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và làm cho chu kỳ sống của sản phẩm ngắn hơn. Sản phẩm mới được áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến sẽ kích thích tiêu dùng, dẫn đến kích thích sản xuất và tăng thu nhập của nền 12 z kinh tế quốc dân. Đối với các nước đang phát triển và kém phát triển, công nghệ giúp những nước này theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở những nước công nghiệp phát triển dựa trên lợi thế của những nước đi sau kế thừa những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại.
FDI có tác động đến phát triển công nghệ của một quốc gia thông qua: chuyển giao công nghệ; phổ biến công nghệ và phát minh công nghệ. + Góp phần nâng cao chất lượng lao động, phát triển nguồn nhân lực: Trình độ, năng lực và kỹ năng của người lao động tác động không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng của mỗi quốc gia. FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư liên quan đến cả chất lượng và số lượng lao động. Giúp tạo công ăn việc làm, nâng cao năng lực, kỹ thuật lao động và quản trị doanh nghiệp cho các nước tiếp nhận đầu tư.
- Góp phần giải quyết các vấn đề Kinh tế - Xã hội: + Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư: ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia đó là: cơ cấu nghành; cơ cầu thành phần và cơ cấu vùng. Trong đó cơ cấu nghành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức của cơ cấu kinh tế khác. Do vậy việc thay đổi cơ cấu nghành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia. một cơ cấu kinh tế hợp lý ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với các yếu tố vốn, công nghệ, kỹ năng và trình độ quản lý đã có tác động mạnh đến cơ cấu nghành kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư ở 3 phương diện: thay đổi cơ cấu nghành; thay đổi cơ cấu bên trong nghành; thay đổi cơ cấu bên trong của một lĩnh vực sản xuất.77] + Thúc đẩy xuất khẩu: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư thông qua xây dựng qua xây dựng năng lực xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu. 13 z + Góp phần cải thiện cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của những nước đang phát triển. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài với tính chất là nguồn vốn đầu tư ổn định so với đầu tư gián tiếp sẽ góp phần quan trọng để duy trì, cải thiện cán cân thanh toán tổng thể trong nền kinh tế. Hoạt động FDI còn giúp ổn định cán cân thanh toán thông qua hoạt động xuất khẩu thay thế nhập khẩu.81] + Góp phần giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho người lao động: Khi trực tiếp đầu tư vốn vào các nước tiếp nhận đầu tư thì các doanh nghiệp nước ngoài thường tuyển dụng lao động ở các địa phương giúp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các nước này.
Thông thường những doanh nghiệp nước ngoài cũng trả lương cao hơn các doanh nghiệp trong nước vì thế thu nhập của người lao động cũng được cải thiện hơn nhưng họ cũng yêu cầu cao hơn về trình độ và tính kỷ luật của người lao động. + Góp phần bảo vệ môi trường: Theo nhận định của các chuyên gia bảo vệ môi trường thì nguyên nhân của tình trạng phá hủy môi trường chủ yếu là do trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp đã sử dụng những công nghệ lạc hậu, trình độ nhận thức của người quản lý và người lao động còn yếu, nhất là chưa có hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp. Những tồn tại này chủ yếu ở các nước đang phát triển và kém phát triển. Nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư thường sở hữu công nghệ sạch, tiên tiến và có hệ thống quản lý môi trường tốt hơn so với các doanh nghiệp trong nước.
Hơn nữa khi cho phép các doanh nghiệp FDI đầu tư tại nước mình thì các nước tiếp nhận đầu tư thường yêu cầu chặt chẽ về vấn đề xử lý môi trường. + Góp phần vào quá trình mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế: Đầu tư trực tiếp nước ngoài đống vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa các quốc gia đi đầu tư và các quốc gia tiếp nhận đầu tư, làm cho quá trình phân công lao động diễn ra theo chiều sâu.