Luận văn: Thực hiện chính sách thông tin cơ sở tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Phân tích chính sách thông tin cơ sở tại huyện Châu Thành, An Giang. Luận văn đánh giá thực trạng, giải pháp và hiệu quả mang lại cho địa phương.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THÔNG TIN CƠ SỞ

1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1. Khái niệm thông tin

1.1.2. Khái niệm chính sách

1.1.3. Khái niệm chính sách công

1.1.4. Chính sách thông tin

1.2. Khái niệm việc thực thi chính sách công và các bước thực hiện chính sách thông tin cơ sở

1.2.1. Khái niệm việc thực thi chính sách công

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THÔNG TIN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THÔNG TIN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò chính sách thông tin cơ sở Châu Thành

Chính sách thông tin cơ sở tại huyện Châu Thành, An Giang được xác định là một kênh truyền thông chiến lược, đóng vai trò cầu nối trực tiếp giữa chính quyền và người dân. Hệ thống này có nhiệm vụ cốt lõi là đưa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân. Đây là công cụ thiết yếu trong công tác quản lý nhà nước, góp phần nâng cao dân trí, ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua các hoạt động truyền thanh cơ sở, cổng thông tin điện tử huyện Châu Thành, và các hình thức tuyên truyền trực quan, chính sách này đảm bảo người dân được tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc thực hiện hiệu quả chính sách này còn giúp ngăn chặn thông tin sai lệch, phản động, củng cố niềm tin của nhân dân. UBND huyện Châu Thành và các cấp ủy Đảng luôn xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Luận văn của tác giả Trần Lệ Xuân (2021) khẳng định, nhờ thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền An Giang mà huyện Châu Thành đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từ xây dựng nông thôn mới đến giảm nghèo bền vững, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt quê hương. Do đó, việc nghiên cứu và nâng cao hiệu quả thông tin cơ sở không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của địa phương.

1.1. Quan điểm chỉ đạo và cơ sở pháp lý thực hiện chính sách

Việc thực thi chính sách thông tin cơ sở tại huyện Châu Thành dựa trên nền tảng các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư nhấn mạnh công tác thông tin cơ sở là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Cụ thể hóa các chỉ đạo này, UBND huyện Châu Thành đã ban hành nhiều văn bản như Kế hoạch 326/KH-UBND về thực hiện Đề án tổ chức, hoạt động thông tin cơ sở giai đoạn 2018 - 2020. Các quy định về hoạt động thông tin cơ sở, như Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, từ nội dung đến hình thức triển khai. Các văn bản này đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là đảm bảo quyền được thông tin của người dân, đồng thời phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước tại địa phương.

1.2. Mục tiêu trọng tâm của đề án truyền thông chính sách

Mục tiêu chính của chính sách là đảm bảo 100% các xã, thị trấn trên địa bàn huyện được phủ sóng thông tin thiết yếu. Đề án truyền thông chính sách tập trung vào việc phổ biến chính sách pháp luật mới, các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới, và các thông tin về khoa học kỹ thuật. Một mục tiêu quan trọng khác là hiện đại hóa hệ thống thông tin cơ sở, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số huyện Châu Thành. Qua đó, không chỉ cung cấp thông tin một chiều mà còn tạo kênh tương tác hai chiều, giúp người dân phản ánh tâm tư, nguyện vọng đến chính quyền, góp phần xây dựng chính quyền điện tử vững mạnh.

II. Giải mã thách thức chính sách thông tin cơ sở Châu Thành

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, việc thực hiện chính sách thông tin cơ sở tại huyện Châu Thành vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và các kênh thông tin phi chính thống. Người dân, đặc biệt là giới trẻ, có xu hướng tiếp cận thông tin qua các thiết bị thông minh, khiến các kênh truyền thống như loa truyền thanh giảm sức hút. Bên cạnh đó, chất lượng nội dung thông tin đôi khi còn khô khan, mang tính hành chính, chưa thực sự hấp dẫn và đáp ứng đúng nhu cầu đa dạng của người dân. Nguồn nhân lực làm công tác thông tin cơ sở còn nhiều bất cập. Theo nghiên cứu, nhiều cán bộ phụ trách đài truyền thanh xã là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ báo chí, truyền thông. Cơ sở vật chất, đặc biệt là hệ thống truyền thanh cơ sở ở một số xã, đã xuống cấp sau nhiều năm sử dụng, ảnh hưởng đến chất lượng phát sóng và độ phủ sóng. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả thông tin cơ sở, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

2.1. Hạn chế về cơ sở vật chất và hệ thống truyền thanh

Theo tài liệu nghiên cứu, mặc dù được đầu tư, gần 50% hệ thống truyền thanh cơ sở cũ chưa được tái đầu tư đồng bộ. Nhiều thiết bị đã hết niên hạn sử dụng, thường xuyên hư hỏng, đặc biệt trong mùa mưa bão. Việc duy tu, bảo dưỡng chưa được thực hiện thường xuyên do nguồn kinh phí hạn hẹp. Điều này không chỉ làm gián đoạn việc truyền tải thông tin mà còn ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh, gây khó khăn cho người dân trong việc tiếp nhận thông tin. Việc chậm đổi mới công nghệ, áp dụng các giải pháp phát thanh thông minh cũng là một rào cản lớn trong việc hiện đại hóa kênh truyền thông quan trọng này.

2.2. Bất cập về nguồn nhân lực và chuyên môn nghiệp vụ

Nguồn nhân lực được xem là yếu tố then chốt nhưng cũng là điểm yếu lớn. Đội ngũ cán bộ phụ trách thông tin ở cấp xã phần lớn không được đào tạo đúng chuyên ngành báo chí. Họ thường là cán bộ văn hóa, đoàn thể kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng sản xuất tin bài hấp dẫn, biên tập chương trình chuyên nghiệp. Chế độ đãi ngộ, phụ cấp còn thấp, chưa tạo được động lực để họ gắn bó và tâm huyết với công việc. Báo cáo công tác thông tin cơ sở nhiều lần chỉ ra rằng sự biến động nhân sự liên tục gây khó khăn trong việc duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động.

III. Phương pháp triển khai chính sách thông tin cơ sở hiệu quả

Để vượt qua thách thức, huyện Châu Thành đã áp dụng các phương pháp triển khai chính sách một cách bài bản và có hệ thống. Yếu tố cốt lõi là việc xây dựng một kế hoạch thông tin cơ sở chi tiết, bám sát thực tiễn địa phương và các chỉ đạo từ Sở Thông tin và Truyền thông An Giang. Kế hoạch này không chỉ xác định rõ mục tiêu, nội dung, mà còn phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể là chìa khóa thành công. Phòng Văn hóa và Thông tin đóng vai trò chủ trì, trong khi Đài Truyền thanh huyện hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật. Các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Huyện đoàn tích cực cung cấp thông tin chuyên ngành và vận động hội viên tham gia. Quá trình triển khai luôn đi kèm với công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên để kịp thời tháo gỡ khó khăn và điều chỉnh cho phù hợp. Việc tổ chức sơ kết, tổng kết định kỳ giúp rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả thông tin cơ sở trong các giai đoạn tiếp theo.

3.1. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đồng bộ

Mọi hoạt động đều bắt đầu bằng việc xây dựng kế hoạch chi tiết. UBND huyện Châu Thành chỉ đạo các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch hàng năm và giai đoạn, dựa trên các đề án lớn của tỉnh. Nội dung kế hoạch bao gồm dự kiến về nguồn lực tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất và lộ trình thực hiện cụ thể. Ví dụ, Kế hoạch 326/KH-UBND đã vạch ra lộ trình đầu tư trang thiết bị, xuất bản bản tin và phát triển trang thông tin điện tử cho các xã, thị trấn. Việc tổ chức thực hiện được triển khai đồng bộ từ cấp huyện đến cơ sở, đảm bảo chính sách được đưa vào cuộc sống một cách nhất quán.

3.2. Cơ chế phân công phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể

Thành công của chính sách phụ thuộc lớn vào sự phối hợp nhịp nhàng. Huyện đã xây dựng một quy chế phối hợp rõ ràng, trong đó Phòng Văn hóa và Thông tin là đầu mối, chịu trách nhiệm chính. Đài Truyền thanh huyện quản lý kỹ thuật và hướng dẫn nghiệp vụ cho các đài xã. Các phòng ban chuyên môn như Nông nghiệp, Kinh tế - Hạ tầng cung cấp thông tin, tài liệu tuyên truyền theo lĩnh vực. Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể giúp lan tỏa thông tin sâu rộng trong cộng đồng, đến từng đối tượng cụ thể như nông dân, phụ nữ, thanh niên, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong dòng chảy thông tin.

IV. Bí quyết hiện đại hóa chính sách thông tin cơ sở Châu Thành

Trước xu thế chuyển đổi số huyện Châu Thành, việc hiện đại hóa các kênh thông tin cơ sở là một yêu cầu tất yếu. Huyện đã và đang thực hiện nhiều giải pháp đột phá để đưa thông tin đến gần hơn với người dân một cách nhanh chóng và tiện lợi. Trọng tâm là việc phát triển và nâng cấp Cổng thông tin điện tử huyện Châu Thành, biến nó thành một trung tâm thông tin chính thống, đa phương tiện. Không dừng lại ở website, huyện còn chủ động tận dụng sức mạnh của mạng xã hội bằng cách lập trang Fanpage Facebook chính thức, tạo ra một kênh tương tác hai chiều hiệu quả. Các đề án truyền thông chính sách mới đều tích hợp yếu tố công nghệ, từ việc xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa đến việc triển khai các ứng dụng trên thiết bị di động. Vai trò của các tổ công nghệ số cộng đồng Châu Thành cũng được phát huy, giúp hướng dẫn người dân, đặc biệt là người cao tuổi, cách tiếp cận và sử dụng các công cụ số để khai thác thông tin. Những nỗ lực này đang dần thay đổi diện mạo của truyền thông cơ sở huyện Châu Thành, giúp thông tin chính sách trở nên sinh động và dễ tiếp cận hơn bao giờ hết.

4.1. Phát triển Cổng thông tin điện tử và mạng xã hội

Cổng thông tin điện tử huyện vận hành từ năm 2015, đóng vai trò là kênh thông tin chính thức, cập nhật liên tục các hoạt động chỉ đạo, điều hành của chính quyền và các tin tức kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trang fanpage “Ubnd Huyện Châu Thành” trên Facebook đã thu hút hàng ngàn lượt theo dõi, trở thành kênh đối thoại, tiếp nhận và phản hồi ý kiến người dân hiệu quả. Việc tích hợp các trang tin điện tử của xã vào cổng thông tin huyện tạo ra một hệ sinh thái thông tin đồng bộ, thống nhất từ huyện đến cơ sở.

4.2. Số hóa nguồn thông tin và ứng dụng công nghệ mới

Theo định hướng của Đề án “An Giang điện tử”, huyện Châu Thành đang từng bước số hóa các nguồn thông tin, tài liệu. Mục tiêu là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, phục vụ công tác quản lý và cung cấp thông tin cho người dân. Các công nghệ mới như hệ thống phát thanh thông minh ứng dụng CNTT-viễn thông đang được nghiên cứu triển khai. Giải pháp này cho phép quản lý, vận hành hệ thống truyền thanh từ xa, phát các bản tin đa dạng theo từng cụm dân cư, nâng cao đáng kể hiệu quả và tính linh hoạt của hoạt động truyền thanh cơ sở.

V. Top kết quả chính sách thông tin cơ sở tại Châu Thành

Việc triển khai đồng bộ và quyết liệt chính sách thông tin cơ sở đã mang lại những kết quả tích cực, có thể đo lường được trên địa bàn huyện Châu Thành. Một trong những thành tựu nổi bật nhất là việc mở rộng đáng kể độ phủ sóng truyền thanh. Tỷ lệ hộ dân được tiếp cận thông tin qua hệ thống loa phát thanh đã tăng từ 53% năm 2015 lên đến 88,6% vào năm 2019. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống thông tin cơ sở được đầu tư nâng cấp mạnh mẽ, với 100% xã, thị trấn có đài truyền thanh và điểm thông tin công cộng. Các đề án truyền thông chính sách đã góp phần quan trọng vào thành công của các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhờ công tác tuyên truyền hiệu quả, huyện đã huy động được nguồn lực lớn từ xã hội hóa, với hàng trăm mô hình “Dân vận khéo” trị giá hàng chục tỷ đồng. Báo cáo công tác thông tin cơ sở cho thấy nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân được nâng cao rõ rệt, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

5.1. Mở rộng độ phủ sóng và chất lượng truyền thanh cơ sở

Giai đoạn 2016-2020, huyện đã đầu tư hàng tỷ đồng để nâng cấp trang thiết bị cho Đài truyền thanh huyện và 13 đài cơ sở. Kết quả, 64/64 ấp đã có dây truyền thanh đi qua, với hàng trăm loa được lắp mới và thay thế. Hơn 35.000 hộ dân được phủ sóng, đảm bảo thông tin thiết yếu về phòng chống thiên tai, dịch bệnh, lịch thời vụ nông nghiệp đến được với bà con một cách nhanh nhất. Nội dung các chương trình phát thanh cũng được cải tiến, gần gũi và thiết thực hơn với đời sống người dân.

5.2. Hiệu quả trong tuyên truyền xây dựng nông thôn mới

Thông tin cơ sở đã chứng tỏ là công cụ đắc lực trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhờ tuyên truyền sâu rộng, huyện đã huy động được sự đồng thuận và tham gia tích cực của nhân dân. Đến năm 2020, Châu Thành có 05/12 xã đạt chuẩn “xã nông thôn mới”. Các phong trào thi đua như “Dân vận khéo trong xây dựng nông thôn mới” đã vận động được hơn 81 tỷ đồng, cất mới hàng ngàn căn nhà đại đoàn kết, xây dựng hàng chục cây cầu, tuyến đường nông thôn, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống người dân.

VI. Hướng đi nâng cao hiệu quả chính sách thông tin cơ sở

Để truyền thông cơ sở huyện Châu Thành tiếp tục phát huy vai trò trong giai đoạn mới, việc đề ra các phương hướng và giải pháp mang tính chiến lược là vô cùng cần thiết. Trọng tâm hàng đầu là tiếp tục đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là chuyển đổi hệ thống truyền thanh cơ sở sang công nghệ số, phát thanh thông minh. Song song đó, yếu tố con người phải được đặt lên hàng đầu. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bài bản để xây dựng đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp, có khả năng sản xuất nội dung đa phương tiện, hấp dẫn. Nội dung thông tin cần được đổi mới mạnh mẽ, không chỉ tuyên truyền chính sách mà còn cung cấp kiến thức, kỹ năng thiết thực, giải đáp những vấn đề người dân quan tâm. Cần tăng cường cơ chế tương tác hai chiều, biến các kênh thông tin cơ sở thành diễn đàn để người dân đóng góp ý kiến xây dựng địa phương. Việc lồng ghép công tác thông tin cơ sở với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình chuyển đổi số huyện Châu Thành, sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp chính sách thực sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả bền vững.

6.1. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực thông tin chuyên nghiệp

Giải pháp căn cơ là xây dựng kế hoạch đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ hiện có. Cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ năng viết tin, bài cho phát thanh, kỹ năng sử dụng thiết bị ghi âm, dựng chương trình, quản trị website và mạng xã hội. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo cơ chế nhuận bút, thù lao thỏa đáng để khuyến khích, động viên và giữ chân những người làm công tác thông tin tâm huyết, có năng lực.

6.2. Đổi mới nội dung và hình thức phổ biến chính sách pháp luật

Thay vì đọc nguyên văn các văn bản pháp quy khô khan, cần chuyển hóa nội dung thành các hình thức dễ tiếp cận hơn như tiểu phẩm phát thanh, hỏi-đáp, tọa đàm, phỏng vấn chuyên gia. Việc phổ biến chính sách pháp luật cần gắn liền với các tình huống thực tế, các câu chuyện người thật việc thật tại địa phương. Tăng cường sản xuất các bản tin chuyên đề về nông nghiệp công nghệ cao, khởi nghiệp, kỹ năng sống... để đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của các nhóm đối tượng khác nhau, từ đó nâng cao sức hấp dẫn của các kênh thông tin cơ sở.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách thông tin cơ sở trên địa bàn huyện châu thành tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THÔNG TIN CƠ SỞ 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm thông tin Thông tin là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều hiện nay, đặc biệt nhất là trong hoạt động báo chí, truyền thông. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về khái niệm thông tin tùy từng ngành khoa học, tùy từng cách tiếp cận.

Thời đại ngày nay còn được gọi là thời đại của công nghệ thông tin, thời đại công nghiệp 4. Về mặt truyền thông, thông tin được thể hiện dưới dạng nội dung của tin nhắn hoặc thông qua sự quan sát trực tiếp, gián tiếp. Thông tin cũng có thể được mã hóa thành nhiều dạng khác nhau để truyền và giải thích. Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan, các hoạt động của con người trong đời sống xã hội.

Điều cơ bản là con người sẽ tiếp nhận thông tin để làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng. Khái niệm chính sách Từ thực tế chính sách các ngành, các địa phương và các quốc gia cũng như các cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách chúng ta có thể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất để đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách công: Theo Considine 1994, Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi. Smith (năm 1976) cho rằng “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau”. Smith nhấn mạnh “không hành động” cũng 8 như “hành động” và nhắc nhở chúng ta rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách”.

Theo Colebatch (2002), Chính sách là một phần của khung khổ các ý kiến, mà qua đó, chúng ta được điều chỉnh bởi một cách thức hợp lý, giữa các khía cạnh đa chiều của cuộc sống. B irk land quan niệm ràng: “Chính sách như là một tuyên bố của chính phủ - ở bất kỳ mức nào - về những gi nó dự định làm về một vấn đề công cộng”. Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng:“ chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”.

Qua các nhận định trên cho thấy các chính sách được định nghĩa khác nhau trong từng thời điểm khác nhau và cách tiến hành xây dựng cũng như thực thi khác nhau. Các chính sách có thể biểu hiện thông qua những quyết định đơn lẻ hoặc bao gồm một chuỗi các quyết định có liên quan đến nhau hoặc một định hướng nào đó. Chính sách cũng đang là vấn đề nghiên cứu của các nhà khoa học nhằm đưa ra khái niệm chung nhất làm căn cứ để xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm về chính sách rõ ràng. Khái niệm chính sách công Trong những thời kỳ khác nhau, Chính sách công luôn được xem như một trong những công cụ quan trọng để quản lý Nhà nước của các nhà cầm quyền tại các quốc gia.

Tùy vào từng thời kỳ khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cũng có sự thay đổi phù hợp, vì thế khái niệm về chính sách công cũng được tiếp cận từ các gốc độ khác nhau. Cụ thể như trước thời kỳ đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước là tập trung bao cấp, nên mọi hoạt động kinh tết đều do Nhà nước bao cấp như phân phối sản xuất, hàng hóa được phân 9 phối theo chế độ tem phiếu…. gây nhiều khó khăn cho các nhà quản lý và người dân. Còn sau đổi mới thì Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp, thay đổi về quản lý kinh tế thực hiện chính sách về giá thu mua nông sản, về sản xuất… đã làm thay đổi rõ nét về sự phát triển kinh tế… Qua đó cho thấy việc thực hiện chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành, vì vậy chính sách có thể là hành động riêng biệt của Chính phủ, song nó có thể là kết quả của hàng loạt quyết định, lựa chọn của chính phủ.

Hay chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền. Chính sách công là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một các rõ ràng chính sách công là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau. Guy Peters (năm 1990) thì: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân”, Qua đó cho thấy sự tác động của chính sách công đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể [10, tr. Dunn, 1992 cho rằng: “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” [24, tr.

Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau của các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy Nhà nước về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó trên cơ sở có những tính toán và chủ đích rõ ràng nhằm giải quyết một vấn đề hay đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của thực tiễn xã hội. 10 Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội theo mục tiêu xác định. Từ các khái niệm trên cho thấy chính sách công có nhiều khái niệm ở những gốc nhìn khác nhau.

Theo tôi, chính sách công có thể được hiểu là tất cả các chủ trương, dự án, kế hoạch, chương trình. của chủ thể được trao quyền lực công nhằm xử lý những vấn đề mang tính xã hội, cộng đồng trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng. Chính sách thông tin Chính sách thông tin là cung cấp thông tin đến từng đối tượng thụ hưởng trên nguyên tắc quy định của một Quốc gia, lãnh thổ. Chính sách thông tin được thực hiện ở các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội nhằm truyền đạt thông tin của các đối tượng quản lý đến người dân.

Khái niệm việc thực thi chính sách công và các bước thực hiện chính sách thông tin cơ sở 1. Khái niệm việc thực thi chính sách công: Việc thực thi chính sách công có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của một chính sách. Dựa trên những quan điểm riêng của mỗi tác giả đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về thực thi chính sách công như: Tác giả Nguyễn Hữu Hải cho rằng: “Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý trí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng” [20, tr. Tác giả Lê Chi Mai cho rằng: “thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua hoạt động có tổ chức 11 của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra” [27, tr.

Theo tác giả Bùi Phương Đình cho rằng: “Thực thi chính sách công là một giai đoạn quan trọng trong chu trình chính sách, là bước duy nhất chọn ý tưởng chính sách, cụ thể là các ý tưởng về mục tiêu , đối tượng phương thức can thiệp thành những hành động nhất định của các cơ quan, thiết chế, tổ chức chính quyền ở nhiều cấp khác nhau và những người đại diện cho các cơ quan, thiết chế, tổ chức, chính quyền ở nhiều cấp khác nhau và những người đại diện cho các cơ quan, thiết chế, tổ chức này để giải quyết các vấn đề xã hội” [19, tr. Các bước thực hiện chính sách thông tin cơ sở: Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách: Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thông tin cơ sở trên địa bàn huyện được xây dựng khi đưa chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh An Giang là cơ quan chủ trì xây dựng kế hoạch, chương trình, hướng dẫn thực hiện để trình lên UBND tỉnh phê duyệt, sau đó triển khai đến các huyện, thị, thành phố thực hiện chính sách. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thông tin cơ sở gồm các nội dung cơ bản sau: Công tác tổ chức, điều hành: Nội dung kế hoạch gồm những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì như Phòng Văn hóa và Thông tin, Đài Truyền thanh huyện và các cơ quan phối hợp triển khai thực hiện như phòng Nội vụ, phòng Tài chính Kế hoạch, … Số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi, cơ chế và trách nhiệm của cán bộ quản lý và các cá n hân thực thi, cơ chế tác động giữa các bộ phận thực thi chính sách.

Các nguồn vật lực liên quan: dự kiến về các cơ sở kiến trúc, trang thiết bị phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách, các nguồn lực tài chính, các 12 vật tư văn phòng phẩm… trong các nguồn lực này nguồn lực tài chính là không thể thiể thiếu. Thời gian triển khai thực hiện: Khi xây dựng kế hoạch thực thi CSTTCS cần ghi rõ mốc thời gian thực hiện chính sách cụ thể. Các mốc thời gian điều dựa trên văn bản của tỉnh và địa phương. Công tác kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách: là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra giám sát, tổ chức thực thi chính sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ