Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ TRONG NƯỚC 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Có nhiều nghiên cứu về kinh tế vĩ mô và vi mô từ trước đến nay, nhưng nhìn chung có thể kể đến những nhà kinh tế hàng đầu đã thực hiện nhiều nghiên cứu về kinh tế, tăng trưởng kinh tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Có thể kể ra những đại diện ưu tú nhất, với các tác phẩm kinh điển đã được công bố và được đánh giá cao như: Các công trình nghiên cứu của A.dam Smith, Karl Mark, John Maynard Keynes, Cobb - Doughlas, Harrod - Domar hay P.Samuelson về các mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế từ cổ điển đến tân cổ điển và hiện đại.
Trước Đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933, nền kinh tế thị trường tự do của các nước Tư bản chủ nghĩa phát triển ổn định và bền vững. Trong tác phẩm: “Của cải của các dân tộc” (The Wealth of Nations), Adam Smith, người được coi là cha đẻ của môn kinh tế học cho rằng: .người ta trong khi theo đuổi lợi ích riêng của mình dường như được “một bàn tay vô hình” dẫn dắt để tăng thêm lợi ích cho xã hội. Nếu như có một bàn tay vô hình, nếu như thị trường phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả sao cho các nhu cầu của người tiêu dùng được thỏa mãn với chi phí tối thiểu, thì tại sao chính phủ lại phải can thiệp vào nền kinh tế để làm gì? [47.dam Smith cho rằng hàm sản lượng chỉ phụ thuộc vào năm yếu tố: sức lao động, tiền vốn, đất đai, tiến bộ kỹ thuật và môi trường kinh tế xã hội. Chính phủ không nên can thiệp mà để cho kinh tế thị trường tự do phát triển.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa”, David Ricardo cho rằng: nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó các yếu tố cơ bản của TTKT là đất đai, lao động và vốn [29. 8 Đồng thuận với những tư tưởng trên, lý thuyết của trường phái Tân cổ điển với đại diện là các nhà nghiên cứu như Stanley Jevons (Anh), Carl Menger (Áo), Walras (Pháp) cho rằng: tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy TTKT. Và chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lượng mà chỉ ảnh hưởng đến mức giá của nền kinh tế, vì vậy, vai trò của Chính phủ là mờ nhạt trong TTKT. Trong một số các nghiên cứu thuộc trường phái tân cổ điển khác như mô hình tăng trưởng của Solow - Swan (1956) thì tăng trưởng sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững và tốc độ tăng trưởng không phụ thuộc vào các nhân tố bên trong mà chỉ phụ thuộc vào các yếu tố ngoại sinh như công nghệ hay tốc độ tăng trưởng lao động.
Lý thuyết của Adam Smith đã được cổ súy trong nền kinh tế thị trường tự do đang phát triển. Tuy nhiên, với biến động kinh tế tai hại nhất trong lịch sử Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đó là cuộc Đại suy thoái kinh tế thời kỳ 1929 - 1933. Trong những năm 1930, nước Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa đã trải qua nạn thất nghiệp và suy giảm thu nhập trầm trọng, sự kiện này làm cho nhiều nhà kinh tế nghi ngờ tính xác thực của lý thuyết kinh tế cổ điển. Trong hoàn cảnh như vậy, năm 1936, John Maynard Keynes đã làm cuộc cách mạng trong kinh tế học bằng cách công bố tác phẩm: Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ [43.
Keynes đã đề xuất một phương pháp mới để phân tích nền kinh tế hoàn toàn khác với lý thuyết cổ điển. Keynes cho rằng: tổng cầu thấp là do thu nhập thấp và thất nghiệp cao. Keynes phê phán lý thuyết cổ điển vì nó giả định rằng chỉ có tổng cung - tư bản, lao động và công nghệ quy định thu nhập quốc dân. Theo Keynes, điểm cân bằng của nền kinh tế đạt được khi mà mức sử dụng lao động vừa đủ để đảm bảo đáp ứng tổng cầu hữu hiệu, hiệu quả kinh tế sẽ phát huy ở mức cao nhất nếu có tác động tích cực lên tổng cầu.
Vì vậy, khi sản lượng chưa đạt được sản lượng tiềm năng nhà nước cần phải tác động, can thiệp vào nền kinh tế để khắc phục mất cân đối, nhằm tăng tỷ lệ sử dụng lao động, tăng sản lượng, thông qua tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế. Cần thiết phải có vai trò Nhà nước trong điều tiết kinh tế để đối 9 phó với khủng hoảng và thất nghiệp; Nhà nước nên sử dụng quyền hạn đó để đánh thuế và gia tăng chi tiêu, qua đó để tác động lên chu kỳ kinh doanh. Chi tiêu của Chính phủ là khoản đầu tư công cộng, bơm thêm tiền vào nền kinh tế để tăng tổng cầu. Trong học thuyết của mình, J.Keynes đề cao CSTK, ông lập luận rằng, cần thiết phải có vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế để chống đỡ khủng hoảng và thất nghiệp, nhà nước nên sử dụng quyền hạn của mình để đánh thuế và gia tăng chi tiêu, qua đó để tác động lên chu kỳ kinh tế [43.
Các nhà kinh tế theo trường phái kinh tế học Keynes cho rằng, CSTK có hiệu quả to lớn trong chống chu kỳ kinh tế. Họ sử dụng mô hình đường IS- LM [43.] để chứng minh CSTK phát huy tác dụng thông qua việc giảm thuế suất trong các giai đoạn thu hẹp và suy thoái, giúp hạn chế việc suy giảm sản lượng nhờ tăng đầu tư ngoài khu vực nhà nước, trong khi việc tăng thuế suất trong các giai đoạn tăng trưởng nóng giúp hạn chế tốc độ lạm phát nhờ cắt giảm tiêu dùng ngoài khu vực nhà nước. Ủng hộ lý thuyết của Keynes, David Begg; Stanley Fischer; Rudiger Dornbusch trong công trình: Kinh tế học [40.], cho rằng: Nguyên cớ chung để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế thị trường là do trục trặc của thị trường, do thất bại của thị trường. Đôi khi do thị trường không phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả, và sự can thiệp của Chính phủ có thể cải thiện hoạt động kinh tế.
Lý thuyết Kinh tế học chỉ ra sáu trục trặc lớn của thị trường khiến cho có sự can thiệp của Chính phủ, sáu trục trặc đó là: Chu kỳ kinh tế; Hàng hóa công cộng; Các ngoại ứng; Các vấn đề liên quan đến thông tin; Độc quyền và quyền lực đối với thị trường; Tái phân phối thu nhập và hàng khuyến dụng [40. David Begg đã nhấn mạnh tác động của CSTK đến sản lượng cân bằng, phân tích ảnh hưởng của thuế ròng và ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ đối với sản lượng, đồng thời đưa ra khái niệm số nhân ngân sách cân bằng - chỉ ra việc cùng tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế sẽ làm tăng sản lượng. Kinh tế học của Paul A.] cũng đã đề cập đến CSTK, trong đó Samuelson cho rằng: trên giác độ kinh tế vĩ mô, chi tiêu của Chính phủ cũng 10 ảnh hưởng đến mức chi tiêu nói chung của cả nền kinh tế và do đó có tác động đến mức GDP, và thuế cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua tác động làm giảm thu nhập của mọi người, đồng thời tác động đến giá cả hàng hóa và các yếu tố sản xuất, do đó, ảnh hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích.Gregory Mankiw, là người đại diện xuất sắc cho trường phái Keynes mới, với tác phẩm: Kinh tế học [44.] đã thành công trong việc kết nối, hệ thống hóa nhiều đóng góp quý báu của các nhà kinh tế cổ điển, tân cổ điển và cổ điển mới. Mô hình IS - LM vẫn đóng vai trò chủ đạo để giải thích lý thuyết của Keynes, theo đó: Vì mua hàng của chính phủ là một thành tố của chi tiêu, nên tại bất kỳ mức thu nhập cho trước nào, khi mức mua hàng của Chính phủ cao hơn, chi tiêu dự kiến cũng cao hơn.
Nếu mua hàng của chính phủ tăng thêm một lượng bằng ∆G, đường chi tiêu dự kiến sẽ dịch chuyển lên phía trên một khoảng bằng ∆G. Trạng thái cân bằng của nền kinh tế sẽ dịch chuyển lên trên, qua đó cũng làm thu nhập Y tăng. Cần lưu ý rằng, mức tăng thu nhập (∆Y) cao hơn mức tăng mua hàng của chính phủ (∆G), do vậy, CSTK có tác động khuếch đại đối với thu nhập, điều đó có nghĩa là ∆Y lớn hơn ∆G. Tỷ số ∆Y/ ∆G được gọi là nhân tử mua hàng của Chính phủ, nó cho biết thu nhập tăng thêm bao nhiêu khi mua hàng của chính phủ tăng thêm 1 USD.
Sở dĩ CSTK có tác dụng khuếch đại thu nhập vì: Theo hàm tiêu dùng, thu nhập cao hơn dẫn đến mức tiêu dùng cao hơn. Vì mức mua hàng của chính phủ tăng thêm làm tăng thêm thu nhập, cho nên nó lại làm tăng tiêu dùng, tiếp đó làm tăng thu nhập hơn nữa, sau đó lại làm tăng tiêu dùng và v.v… Mặt khác, tại một mức thu nhập bất kỳ nào đó biện pháp cắt giảm thuế ở mức ∆T làm cho chi tiêu dự kiến tăng thêm một lượng tương ứng bằng MPC. Trạng thái cân bằng sẽ dịch chuyển, thu nhập Y tăng. Trong trường hợp này CSTK cũng có tác dụng khuếch đại đối với thu nhập.
Tuy nhiên, có những điều còn tranh cãi nhiều trong kinh tế học vĩ mô về vấn đề liệu chính phủ có nên và ở chừng mực nào đó có thể ổn định nền kinh tế, vì vậy, bên cạnh những nhà kinh tế ủng hộ, có những nghiên cứu không đồng thuận với Keynes. Các nhà kinh tế học bảo thủ, kể cả những người đoạt giải 11 thưởng Nobel kinh tế như: Milton Friedman thuộc học viện Hoover và James Buchanan thuộc Đại học tổng hợp George Mason, đã lập luận rằng: trong thực tiễn chính phủ còn thậm chí hay thất bại hơn so với thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả. James Buchanan cho rằng: hậu quả mà học thuyết kinh tế của J. Keynes để lại cho nền kinh tế là ở chỗ hợp thức hóa bội chi NSNN.
Ông chứng minh rằng: kể từ khi Chính phủ Mỹ vận dụng lý thuyết kinh tế của Keynes vào đầu những năm 1960 đến nay, NSNN Liên bang Mỹ liên tục trong tình trạng bội chi với quy mô bội chi có xu hướng tăng dần. Kết quả là ngày nay chính quyền Mỹ trở thành con nợ lớn nhất thế giới [43.