Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Cần Thơ giữ vai trò hạt nhân kinh tế và trung tâm khoa học công nghệ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tính đến cuối năm 2011, địa phương có 4.506 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong đó khoảng 90% thuộc quy mô vừa và nhỏ. Mặc dù số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động tăng trưởng nhanh qua từng năm, hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Báo cáo khảo sát diện rộng trên 270 doanh nghiệp cho thấy chỉ có 6,6% đơn vị chủ động thực hiện các đề tài nghiên cứu đổi mới công nghệ. Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất đang đối mặt với thực trạng trang thiết bị công nghệ lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với chuẩn trung bình tiên tiến của khu vực.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thiếu hụt nguồn lực tài chính tự có, trong khi việc tiếp cận các cơ chế hỗ trợ tài chính từ Nhà nước gặp nhiều rào cản pháp lý và thủ tục hành chính. Giai đoạn 2011-2015, kế hoạch vốn đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học công nghệ đạt 1.261,402 tỷ đồng, nhưng đến năm 2013 tỷ lệ giải ngân thực tế mới chỉ đạt 29,4%.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng hoạt động R&D, nhận diện các điểm nghẽn trong chính sách tài chính hiện hành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính cấp địa phương. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại thành phố Cần Thơ với mốc thời gian trọng tâm giai đoạn 2008-2014. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp tối ưu hóa cơ chế trích lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ doanh nghiệp (tối đa 10% thu nhập tính thuế) và thúc đẩy gia tăng tỷ trọng đầu tư R&D trên tổng doanh thu của khối kinh tế tư nhân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên hai trụ cột lý luận chính về quản lý khoa học công nghệ và kinh tế học chính sách công:

Thứ nhất, lý thuyết phân loại hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) theo chuẩn mực của UNESCO và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Cấu trúc R&D bao gồm ba giai đoạn kế tiếp: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Trong đó, giai đoạn triển khai trong doanh nghiệp giữ vai trò quyết định, bao gồm: chế tác mẫu sơ khởi (prototype), vận hành thử nghiệm quy trình (pilot) và sản xuất thử nghiệm (loạt 0) nhằm hoàn thiện công nghệ trước khi đưa vào sản xuất đại trà.

Thứ hai, lý thuyết về công cụ chính sách tài chính trong quản lý khoa học công nghệ của Giáo sư Vũ Cao Đàm. Chính sách tài chính được xác định là hệ thống biện pháp kinh tế (bao gồm thuế khóa, tín dụng ưu đãi, chi tiêu ngân sách và quỹ tài chính) do chủ thể quản lý ban hành nhằm tác động vào hành vi của đối tượng quản lý. Khi thực thi, chính sách luôn tạo ra ba luồng tác động: tác động dương tính (đạt mục tiêu khuyến khích đầu tư), tác động âm tính (gây cản trở ngoài ý muốn) và tác động ngoại biên.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

  • Nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp: Hoạt động sáng tạo có hệ thống nhằm cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa chi phí sản xuất.
  • Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Đơn vị kinh tế thuộc sở hữu tư nhân, tự chủ tài chính theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005.
  • Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp: Quỹ tài chính hình thành từ tối đa 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm để phục vụ đổi mới công nghệ nội bộ.
  • Doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Mô hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học theo Nghị định số 80/2007/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích dữ liệu thứ cấp và điều tra sơ cấp chuyên sâu:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ giai đoạn 2010-2013, báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng kết quả điều tra của Viện Kinh tế - Xã hội thành phố Cần Thơ trên 270 doanh nghiệp.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả thực hiện khảo sát chọn mẫu có chủ đích trên 09 doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiêu biểu đại diện cho các ngành công nghiệp mũi nhọn (cơ khí chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp tàu thủy, dược phẩm, phân bón, thuốc thú y, xây dựng). Điểm đặc thù là số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh có bộ phận R&D tại địa phương rất ít, do đó nghiên cứu áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý (Key Informant Panel - KIP) và lãnh đạo doanh nghiệp để thu thập dữ liệu định tính chi tiết.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Hoạt động R&D tại doanh nghiệp tư nhân chứa đựng nhiều bí quyết công nghệ và sự phức tạp về chứng từ kế toán. Phương pháp phỏng vấn sâu giúp làm rõ cơ chế phân bổ nguồn vốn, cách thức vận hành quỹ khoa học công nghệ và các vướng mắc quyết toán thuế thực tế mà khảo sát định lượng bảng hỏi thông thường không thể hiện đầy đủ.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình thu thập số liệu, khảo sát thực địa và tổng hợp phân tích được hoàn thành trong năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Cần Thơ ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, 100% doanh nghiệp được khảo sát thực hiện hoạt động R&D bằng nguồn vốn tự có của đơn vị, hoàn toàn chưa tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước. Có tới 77% doanh nghiệp bày tỏ nhu cầu cấp thiết cần Nhà nước hỗ trợ tài chính để triển khai thử nghiệm các sản phẩm mới. Trong khi đó, 23% doanh nghiệp có tiềm lực vốn tự có lại gặp bế tắc trong khâu quyết toán chi phí R&D hợp lý để tính trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, điểm nghẽn nghiêm trọng trong việc trích lập và giải ngân Quỹ phát triển khoa học công nghệ. Toàn thành phố Cần Thơ chỉ có duy nhất 01 doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ là Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (mức trích lập năm 2012 đạt 40 tỷ đồng, năm 2013 đạt 28,5 tỷ đồng, chi đầu tư R&D năm 2013 đạt 36 tỷ đồng). Tuy nhiên, đơn vị vẫn chưa thể thực hiện quyết toán nguồn kinh phí này với cơ quan thuế do thiếu hướng dẫn cụ thể về định mức chi và chứng từ hợp lệ.

Thứ ba, số lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ phát triển rất chậm. Tính đến tháng 10/2014, thành phố mới chỉ công nhận 02 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ. Một doanh nghiệp cơ khí nông nghiệp tiêu biểu sau khi được cấp chứng nhận năm 2012 đã đạt doanh thu 7.906 triệu đồng vào năm 2013, được miễn giảm 90,2 triệu đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp, mở rộng xuất khẩu máy nông nghiệp sang các thị trường Ấn Độ, Philippines và Campuchia. Mặc dù chính sách ưu đãi mang lại hiệu quả rõ rệt, rào cản thủ tục vẫn ngăn cản sự nhân rộng mô hình này.

Thứ tư, cơ cấu chi tiêu cho khoa học công nghệ của khối doanh nghiệp bị mất cân đối nghiêm trọng. Thống kê từ 270 doanh nghiệp cho thấy tổng chi cho phát triển khoa học công nghệ đạt mức 11,41% doanh thu. Trong đó, chi phí cải tiến và nâng cấp thiết bị hiện có chiếm tỷ trọng vượt trội với 3,69% doanh thu, trong khi phát triển công nghệ mới chỉ chiếm 1,84%, và đăng ký sở hữu trí tuệ, bản quyền sáng chế chỉ chiếm vỏn vẹn 0,36% doanh thu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng doanh nghiệp ngần ngại đầu tư R&D xuất phát từ quy mô vốn hạn chế. Đến năm 2012, quy mô vốn bình quân của doanh nghiệp tại Cần Thơ đạt 27.718 triệu đồng/doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp không có đủ tài sản thế chấp để vay vốn tín dụng dài hạn phục vụ R&D với lãi suất thương mại.

Về mặt chính sách công, Thông tư số 15/2011/TT-BTC và Thông tư số 105/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định việc sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ doanh nghiệp phải tuân thủ định mức chi và thủ tục thanh quyết toán tương tự như các đề tài sử dụng ngân sách sự nghiệp nhà nước. Đây là một tác động ngoại biên âm tính của chính sách, bởi bản chất nguồn quỹ hình thành từ lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp nhưng lại bị trói buộc bởi định mức hành chính công vốn rất thấp và phức tạp.

So sánh với các nghiên cứu kinh tế tư nhân tại Việt Nam, phát hiện tại Cần Thơ phản ánh sự tương đồng về tình trạng thiếu vốn tích lũy, nhưng bộc lộ điểm yếu đặc thù của vùng kinh tế Tây Nam Bộ là mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các viện, trường đại học (như Đại học Cần Thơ, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long) rất thấp, chỉ có 2/9 doanh nghiệp khảo sát từng phối hợp làm đề tài cấp thành phố.

Để minh họa trực quan các dữ liệu nghiên cứu, cơ cấu phân bổ chi phí khoa học công nghệ (thiết bị 3,69%, nhân lực 1,51%, công nghệ mới 1,84%, sở hữu trí tuệ 0,36%) có thể được trình bày hiệu quả thông qua biểu đồ tròn (Pie Chart), trong khi sự chênh lệch giữa kế hoạch đầu tư 1.261,402 tỷ đồng và mức giải ngân thực tế 29,4% giai đoạn 2011-2015 nên được thể hiện qua biểu đồ cột so sánh (Bar Chart).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính cần được thực hiện đồng bộ:

Thứ nhất, ban hành cơ chế hỗ trợ vốn mồi và tín dụng ưu đãi trực tiếp cho hoạt động R&D. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cùng Quỹ Đầu tư Phát triển thành phố cần xây dựng gói vay vốn R&D với lãi suất 0%. Cơ chế tài trợ áp dụng mức hỗ trợ tối đa 30% tổng kinh phí cho các đề tài sản xuất thử nghiệm, chế tạo mẫu sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn thương mại hóa. Nếu dự án không đạt chỉ tiêu nghiệm thu kỹ thuật, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả lại phần vốn vay cho ngân sách địa phương. Thời gian thực hiện giải pháp trong giai đoạn 2015-2017.

Thứ hai, tháo gỡ rào cản quyết toán Quỹ phát triển khoa học công nghệ doanh nghiệp. Cơ quan thuế và Sở Tài chính thành phố Cần Thơ cần ban hành văn bản liên ngành hướng dẫn thực hiện theo hướng trao quyền tự chủ tuyệt đối cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp được tự quyết định định mức chi trả thù lao cho chuyên gia, kỹ sư và nhân công R&D căn cứ theo quy chế tài chính nội bộ, bãi bỏ yêu cầu áp dụng định mức chi đề tài ngân sách sự nghiệp nhà nước. Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2018 có ít nhất 15% doanh nghiệp sản xuất chế biến thành lập và giải ngân quỹ.

Thứ ba, đơn giản hóa quy trình xét duyệt đề tài khoa học công nghệ có sự tham gia của doanh nghiệp. Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ cần rút ngắn thời gian thẩm định thuyết minh đề tài từ 6 tháng xuống dưới 45 ngày làm việc. Áp dụng phương thức tuyển chọn 3-5 ý tưởng đổi mới sáng tạo tiềm năng mỗi quý và cấp kinh phí nghiệm thu theo sản phẩm đầu ra thực tế thay vì kiểm soát thủ tục chứng từ hành chính. Tiến độ áp dụng bắt đầu từ quý 1 năm 2016.

Thứ tư, mở rộng chính sách ưu đãi thuế và mặt bằng cho mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ. Cục Thuế phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường đẩy mạnh tuyên truyền miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo cho các sản phẩm cơ khí nông nghiệp, chế biến xuất khẩu. Đồng thời, bố trí quỹ đất công nghiệp với giá thuê ưu đãi giảm 30% cho các dự án xây dựng trung tâm R&D. Mục tiêu phát triển tối thiểu 10 doanh nghiệp khoa học công nghệ được cấp chứng nhận vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Ban Quản lý Khu công nghiệp): Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế để tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành các quyết định điều chỉnh chính sách thuế, thủ tục thanh toán Quỹ phát triển khoa học công nghệ và chính sách tín dụng hỗ trợ đổi mới thiết bị.
  • Ban lãnh đạo và phòng tài chính kế toán của doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Tài liệu cung cấp cẩm nang thực tiễn về phương thức trích lập 10% thu nhập tính thuế thành lập Quỹ KH&CN, giải pháp hạch toán chi phí R&D hợp lý và lộ trình chuyển đổi mô hình sang Doanh nghiệp khoa học công nghệ để hưởng miễn giảm thuế.
  • Các viện nghiên cứu và trường đại học tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: Giúp các nhà khoa học nắm bắt chính xác nhu cầu công nghệ thực tế của 4.506 doanh nghiệp địa phương, từ đó thiết kế các đề tài nghiên cứu ứng dụng có khả năng thương mại hóa cao.
  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học Công nghệ và Tài chính công: Nguồn tư liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát sâu doanh nghiệp, khung phân tích tác động chính sách và mô hình xử lý dữ liệu thực chứng cấp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cần Thơ gặp khó khăn khi trích lập Quỹ KH&CN?

Nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc thủ tục quyết toán chi phí theo Thông tư số 15/2011/TT-BTC. Cơ quan thuế yêu cầu chứng từ và định mức chi của quỹ doanh nghiệp phải giống như đề tài ngân sách nhà nước. Điển hình như Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang trích lập 40 tỷ đồng năm 2012 nhưng chưa thể quyết toán các khoản thuê chuyên gia do thiếu hướng dẫn cụ thể.

Mức chi tiêu cho hoạt động R&D tại các doanh nghiệp Cần Thơ chiếm tỷ lệ bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát 270 doanh nghiệp, tổng vốn phát triển khoa học công nghệ chiếm trung bình 11,41% doanh thu. Tuy nhiên, nguồn vốn này bị phân tán, trong đó chi nâng cấp máy móc thiết bị cũ chiếm 3,69%, phát triển công nghệ mới chỉ chiếm 1,84%, và chỉ có 6,6% doanh nghiệp thực hiện các đề tài R&D bài bản.

Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ tại địa phương được thụ hưởng ưu đãi tài chính gì?

Doanh nghiệp đạt chứng nhận được miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo và được vay vốn ưu đãi từ các Quỹ phát triển KH&CN. Điển hình một doanh nghiệp máy nông nghiệp tại Cần Thơ đã được miễn giảm 90,2 triệu đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2013.

Cơ chế tài trợ vốn mồi 30% cho dự án R&D được vận hành như thế nào?

Nhà nước ký hợp đồng trách nhiệm hỗ trợ tối đa 30% tổng chi phí cho doanh nghiệp tiến hành sản xuất thử nghiệm sản phẩm mới. Khi đề tài chế tạo thành công và nghiệm thu đạt chuẩn thương mại, doanh nghiệp được giữ lại khoản hỗ trợ. Trường hợp nghiên cứu thất bại không đạt mục tiêu, doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay cho ngân sách.

Vì sao số lượng Doanh nghiệp KH&CN tại thành phố Cần Thơ còn quá ít?

Tính đến tháng 10/2014, toàn thành phố chỉ có 02 doanh nghiệp được chứng nhận. Nguyên nhân là do quy trình chứng minh quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học phức tạp, doanh nghiệp thiếu nhân lực hoàn thiện hồ sơ đăng ký và các cơ quan chức năng địa phương chưa tổ chức dịch vụ tư vấn hỗ trợ hoàn chỉnh đề án.

Kết luận

  • Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) giữ vai trò động lực then chốt giúp 4.506 doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại thành phố Cần Thơ vượt qua tình trạng công nghệ lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
  • Rào cản lớn nhất hiện nay là 100% doanh nghiệp khảo sát phải tự lực tài chính cho R&D, trong khi 77% đơn vị có nhu cầu cấp bách nhưng không tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách.
  • Nút thắt thể chế tại Quỹ phát triển khoa học công nghệ doanh nghiệp cần được tháo gỡ bằng cơ chế tự chủ định mức chi nội bộ, xóa bỏ việc áp đặt thủ tục hành chính công vào nguồn vốn tư nhân.
  • Liên kết ba nhà cần được hiện thực hóa thông qua cơ chế tài trợ vốn mồi 30% và rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ đề tài xuống dưới 45 ngày nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện văn bản hướng dẫn cấp tỉnh trong giai đoạn 2015-2016, tạo bước đột phá đưa Cần Thơ trở thành trung tâm khoa học công nghệ tiên tiến của toàn vùng.

Các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các giải pháp tài chính đồng bộ để biến tiềm lực khoa học công nghệ thành giá trị tăng trưởng kinh tế bền vững.