PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Ô nhiễm môi trƣờng là vấn đề nhức nhối hiện nay của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hƣớng tới phát triển một nền kinh tế xanh, kinh tế bền vững là định hƣớng chiến lƣợc của nhiều quốc gia. Theo TS Đặng Văn Lợi, Tổng cục Môi trƣờng cho biết: hiện nƣớc thải các loại chƣa đƣợc xử lý trên cả nƣớc đã lên tới 1,5 tỷ mét khối mỗi năm.
Trên thực tế, hiện việc dùng các công nghệ xử lý nƣớc thải bằng hóa chất độc hại đôi khi còn gây ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng. Bên cạnh việc đổi mới công nghệ, nhập khẩu các công nghệ tiên tiến và tích cực ứng dụng các công nghệ sạch, thì việc xử lý nƣớc thải bằng công nghệ xanh đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới đặc biệt quan tâm, điển hình là Hà Lan, Đức, Mỹ, Hàn Quốc… Ứng dụng các công nghệ xanh để xử lý nguồn chất thải một cách tự nhiên, bền vững với tiêu chí cân bằng sinh thái là những ƣu tiên trong chiến lƣợc phát triển công nghệ của các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên việc phát triển và ứng dụng công nghệ xanh thƣờng gặp nhiều khó khăn. Không nhanh gọn, rẻ và nhìn thấy ngay cái lợi trƣớc mắt nhƣ trong trƣờng hợp sử dụng các công nghệ xử lý nƣớc dùng hóa chất.
Ứng dụng công nghệ xanh cần sự hiểu biết, kiên trì và cái nhìn dài dạn của các nhà khoa học. Khu du lịch và nghỉ dƣỡng suối nƣớc nóng Thanh Thủy nằm trong khu quy hoạch nƣớc khoáng nóng Thanh Thủy đã đƣợc UBND tỉnh Phú Thọ công bố quy hoạch với diện tích 4. Việc chọn nghiên cứu trƣờng hợp tại khu du lịch khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ vì đây là nơi hiện có nguồn nƣớc thải sinh hoạt lớn, thải trực tiếp ra môi trƣờng. Là khu du lịch sinh thái mới hình thành, sự đồng bộ trong việc phát triển và bảo vệ môi trƣờng còn nhiều hạn chế.
Tác hại trƣớc mắt là việc làm giảm và hỏng chất lƣợng tầng nƣớc ngầm, hiện là tài nguyên nƣớc khoáng làm nên chất lƣợng du lịch riêng của Thanh Thủy. Là địa bàn có sông Đà bao quanh, vị trí thuận 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lợi để đổ toàn bộ nƣớc thải ra sông, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm ra nhiều địa phƣơng ở hạ lƣu sông. Hơn nữa đây là khu du lịch nghỉ dƣỡng, do vậy chất lƣợng về nguồn nƣớc và môi trƣờng là yếu tố đầu tiên phải chú trọng. Việc ứng dụng công nghệ xanh ở đây là rất phù hợp, có thể thí điểm để tiếp tục nhân rộng các mô hình với nhiều khu nghỉ dƣỡng sinh thái trong cả nƣớc.
Có thể nói phát triển công nghệ xanh đã trở thành xu thế lựa chọn tối ƣu cho các khu nghỉ dƣỡng, du lịch sinh thái lớn trên thế giới hiện nay. Việc ứng dụng và phát triển công nghệ xanh về bản chất không khó, cái khó chính là ở nhận thức của xã hội, của con ngƣời và cơ chế chính sách ƣu đãi và tạo điều kiện cho nó phát triển. “Công nghệ xanh” là một khái niệm mới, chƣa đƣợc định nghĩa và cụ thể hóa bằng Luật. Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây thì khái niệm “xanh” nhƣ Kinh tế xanh, tăng trƣởng xanh, công nghiệp xanh, công nghiệp xanh, cũng nhƣ các khái niệm có liên quan nhƣ Công nghệ sạch, sản xuất sạch hơn, công nghệ thân thiện với môi trƣờng… ngày càng xuất hiện rộng rãi.
Trong các vấn đề về môi trƣờng hiện nay, ô nhiễm nguồn nƣớc là vấn đề nghiêm trọng và cần sự quan tâm đặc biệt của tất cả các nƣớc trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, nƣớc sông, suối, kênh, rạch… nhất là các khu du lịch, khu chế xuất, khu công nghiệp gần nhƣ bị ô nhiễm nặng. Đổi mới công nghệ là cụm từ không chỉ đƣợc nhắc đến với vai trò làm tăng năng xuất chất lƣợng sản phẩm, tăng lợi nhuận… mà còn cần đáp ứng một yếu tố quan trọng là giảm thiểu ô nhiễm ra môi trƣờng. Theo nhận xét của một số chuyên gia thì kinh tế Việt Nam hiện đang phát triển theo hƣớng nền kinh tế “nâu”, nghĩa là “ô nhiễm trƣớc và xử lý sau”.
Đó là tình trạng chung của các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vậy đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ để không gây ô nhiễm hoặc xử lý ô nhiễm một cách bền vững chính là điều mà tác giả muốn đề xuất đến trong việc “ứng dụng công nghệ xanh”. Công nghệ xanh có thể nói là một công nghệ của tƣơng lai, công nghệ mà xã hội đang hƣớng đến. Công nghệ xanh là khái niệm rộng, sẽ đƣợc tác giả đề cập trong chƣơng II của Luận văn.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đề tài nghiên cứu của mình, bên cạnh việc bóc tách, phân tích nội hàm các khái niệm liên quan đến công nghệ có gắn các yếu tố “xanh, sạch và thân thiện với môi trƣờng” đang xuất hiện rộng rãi hiện nay, tác giả còn nghiên cứu về các chính sách tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh và những giải pháp cụ thể để có thể ứng dụng thành công công nghệ xanh trong xử lý nƣớc thải gây ô nhiễm môi trƣờng. Lịch sử nghiên cứu Trên thực tế hiện có rất nhiều các công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu trực tiếp về vấn đề sử dụng Công nghệ xanh trong xử lý nguồn nƣớc thải. Công nghệ trên đã thành công ở nhiều nƣớc trên thế giới và bƣớc đầu thành công trong một số mô hình nhỏ ở Việt Nam. - Đề tài “Nghiên cứu kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hồ công viên 2 -3 (Đà Nẵng bằng mô hình đất ướt” của nhóm tác giả Lê Văn Sơn, Phan Thị Kim Ngà, Phạm Phú Lâm, Trịnh Vũ Long, trƣờng ĐH ách khoa Đà N ng (2010).
- Đề tài “ Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Verter và Lục bình bằng mô hình đất ngập nước” của tác giả Trần Ngọc Nam, trƣờng Đại học kỹ thuật TP Hồ Chí Minh. - Bài viết “Đất hiếm và công nghệ xanh”, đăng trên Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số tháng 7/2009 của tác giả Nguyễn Xuân Chánh. - “Tăng trưởng xanh và vai trò đổi mới công nghệ tại các nước đang phát triển” của PGS.TS Phan Minh Tân, PGS.TS Nguyễn Kỳ Phùng đăng trên Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN, 4/2013. Tuy nhiên hầu hết các đề tài nghiên cứu đều thuộc lĩnh vực Môi trƣờng, sinh học hay hóa học thực tế.
Trong đề tài của mình, tác giả không đi sâu vào việc công nghệ xanh đó là gì, các tính chất sinh hóa và hiệu quả của từng công nghệ nhƣ thế nào? Mục đích ở đây là tác giả đi vào việc phân tích và làm rõ khái niệm “Công nghệ xanh” đang hiện hữu ở nhiều nƣớc trên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế giới, đang trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lƣợc công nghệ quốc gia mà nhiều nƣớc đang ấp ủ, nhƣng ở Việt Nam, nó chỉ hiện diện rất ít qua một số bài báo gợi mở, phân tích của các nhà khoa học đầu ngành. Đồng thời tác giả cũng đƣa ra những giải pháp về chính sách tài chính nhằm thúc đẩy những định hƣớng phát triển công nghệ xanh nói chung và công nghệ xanh trong việc giải quyết và ngăn chặn ô nhiễm nƣớc nói riêng. Trên cơ sở đó các nhà làm công tác quản lý KH&CN sẽ có những cái nhìn bao quát, cụ thể và những đánh giá xác đáng, góp phần vào việc phát triển nền công nghệ nƣớc nhà. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhằm tổng hợp, phân tích, đánh giá xu thế phát triển của công nghệ xanh ở Việt Nam hiện nay đƣợc thể hiện trong góc nhìn của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách.
Đề xuất các chính sách tài chính thúc đẩy việc ứng dụng các công nghệ xanh phù hợp trong xử lý nguồn nƣớc thải gây ô nhiễm môi trƣờng hiện nay ở Việt nam. Nghiên cứu trƣờng hợp tại khu du lịch nƣớc khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ, nhằm đề xuất phƣơng án nhân rộng mô hình ứng dụng công nghệ xanh trong tất cả các khu du lịch sinh thái trong cả nƣớc nhằm nâng cao chất lƣợng du lịch. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Trong đề tài nghiên cứu của mình, tác giả tập trung vào các vấn đề sau: + Chính sách khuyến khích về tài chính để ứng dụng công nghệ xanh với môi trƣờng trên trong xử lý nƣớc thải; + Thực trạng và giải pháp xử lý nƣớc thải của Khu du lịch khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ; Phạm vi thời gian: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + 10 năm về trƣớc tính đến thời điểm năm 2014. Vì đây là khu du lịch mới khai thác nƣớc khoáng phục vụ du lịch khoảng 10 năm trở lại đây, lúc đầu tồn tại dƣới dạng hộ kinh doanh nhỏ lẻ, đến nay là các khu du lịch lớn.
Ô nhiễm nguồn nƣớc xuất phát từ chính hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ các hộ gia đình, khai thác và không có phƣơng pháp xử lý nƣớc thải phù hợp dẫn đến ô nhiễm nguồn nƣớc và giảm chất lƣợng nƣớc ngầm tại khu vực. Phạm vi không gian khảo sát: + Tài liệu thống kê, bài báo khoa học trên các tạp chí uy tín; + Khu du lịch nƣớc khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ. Câu hỏi nghiên cứu 1. Câu hỏi chủ đạo của đề tài: Chính sách tài chính đƣợc thiết kế nhƣ thế nào để thúc đẩy việc việc ứng dụng công nghệ xanh trong xử lý nƣớc thải gây ô nhiễm hiện nay? 2.
Câu hỏi cụ thể: - Tại sao phải nghiên cứu và lựa chọn công nghệ xanh trong xử lý nguồn nƣớc thải ở địa bàn Thanh Thủy – Phú Thọ mà không sử dụng các công nghệ xử lý nƣớc thải bằng hóa chất đang phổ biến trên thị trƣờng? - Để khuyến khích sử dụng công nghệ xanh xử lý nƣớc thải khu du lịch Thanh Thủy-Phú Thọ cần những giải pháp chính sách tài chính đặc thù gì? 6. Giả thuyết nghiên cứu - Giả thuyết chủ đạo: Cần phải thiết kế hệ thống chính sách tài chính theo hình thức ƣu tiên giảm thuế, miễn thuế, ƣu đãi vay tín dụng… để khuyến khích các công ty, doanh nghiệp và tổ chức ƣu tiên sử dụng công nghệ xanh trong xử lý nƣơc thải sinh hoạt. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.