CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ 1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách QH và BNCB 1. Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức 1. Cán bộ Có nhiều khái niệm khác nhau về cán bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.
Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [22, tr. Trong Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên đưa ra khái niệm cán bộ như sau: "cán bộ: danh từ: 1. Người làm việc trong cơ quan Nhà nước. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước" [37, tr.
Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, BN giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương theo ngân sách nhà nước” [23, tr. Như vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng phát triển của tổ chức. Công chức Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, BN vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị trực thuộc Công an nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [23, tr. Viên chức Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý Trên cơ sở Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) ban hành quy định về phân cấp quản lý cán bộ và Quyết định số 2147-QĐ/TU, ngày 14-01-2015 của BTV Tỉnh ủy Quảng Nam về phân cấp quản lý cán bộ, BTVHU Quế Sơn đã ban hành Quyết định số 751-QĐ/HU, ngày 10-4-2015 về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý. Theo quyết định trên, cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý gồm: - Các cơ quan cấp huyện: Ủy viên BCH Đảng bộ huyện (trừ các đồng 9 chí thuộc diện BTV Tỉnh ủy quản lý), Ủy viên UBKT (UBKT) Huyện ủy; Phó Chủ tịch HĐND, UBND, Ủy viên Thường trực HĐND huyện; Trưởng, phó phòng, ban và tương đương; Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện; trưởng, phó các đoàn thể chính trị-xã hội thuộc huyện; Bí thư, phó bí thư, ủy viên BTV các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Huyện ủy. - Các xã-thị trấn: Bí thư, phó bí thư đảng ủy; ủy viên BTV đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND; Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy; chủ tịch Uỷ ban MTTQ xã-thị trấn. Căn cứ quy định trên, có thể hiểu cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý là những cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; những người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong hệ thống chính trị từ huyện đến các xã-thị trấn, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều hành công tác, lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của Đảng bộ huyện đề ra.
Cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý là những người được BTVHU trực tiếp quyết định QH, BN, giới thiệu ứng cử, bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, thi hành kỷ luật và thực hiện những chính sách khác. Khái niệm QH, BNCB 1. QH cán bộ Nguyễn Lân định nghĩa trong Từ điển Hán - Việt của mình: "QH là việc lập kế hoạch dài hạn căn cứ vào phép tắc, quy chế và quy cách đã có" [19, tr. Theo từ điển tiếng Việt thì: “QH là bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong một thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn, QH các vùng kinh tế, QH trị thủy một con sông, QH đào tạo cán bộ” [29, tr.
Ngày nay, có nhiều quan niệm về QH cán bộ, sau đây là các quan niệm 10 cơ bản về QH cán bộ: - Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong Thông tri 31-TT/TW ngày 12-01-1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa V), Quyết định số 55- QĐ/TW ngày 26-5-1988 của Bộ Chính trị (khóa VI) thì QHCB là công việc cơ bản trong công tác cán bộ, thuộc trách nhiệm của chủ thể lãnh đạo, trước hết là tập thể cấp ủy, BTV cấp ủy và cá nhân người đứng đầu tổ chức, nhằm chủ động tạo nguồn nhân sự trẻ, tập hợp được nhiều nhân tài. Cán bộ là người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào; và trong bất kỳ thời kỳ cách mạng nào, ở bất cứ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ cũng đóng vai trò quyết định. Như Bác Hồ đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của công việc", "mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [22, tr. - Theo Lê Văn Lý thì: "QH cán bộ là việc lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ, dự kiến sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ" [21, tr.
Từ đây có thể hiểu: QHCB là việc thực hiện những công việc, nhiệm vụ theo những trình tự, thủ tục quy định để ban hành quyết định của cấp ủy có thẩm quyền về danh sách cán bộ (được gọi là cán bộ QH) được sắp xếp vào các chức danh để làm cơ sở thực hiện kế hoạch rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng và giới thiệu ứng cử, BN chức danh đó trong tương lai khi có yêu cầu và thỏa mãn những điều kiện cho phép. BNCB BNCB được hiểu là việc cấp có thẩm quyền giao cho ai đó giữ một trọng trách, một vị trí ở từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị. Theo cách hiểu này thì chưa thấy được đầy đủ nội dung sâu xa của BNCB, dễ đánh đồng với khái niệm đề bạt, cất nhắc, bố trí cán bộ. 11 Theo nghĩa từng từ thì "bổ" có nghĩa là phân bổ, bổ sung, giao cho; "nhiệm" được hiểu là nhiệm vụ, trách nhiệm, nhiệm kỳ…; ghép lại hai từ trên có thể hiểu đó là việc phân bổ hay giao cho ai một nhiệm vụ, trách nhiệm và trong một thời hạn cụ thể.
Theo đó BNCB có nghĩa: "Cử cán bộ giữ một chức vụ trong bộ máy nhà nước, tức là giao cho cán bộ giữ một chức vụ tương đương hoặc cao hơn. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 định nghĩa: "BN là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật" [23, tr. Thực tế ở huyện Quế Sơn, BNCB do BTVHU và UBND huyện quyết định (trong đó gồm cả việc giới thiệu ứng cử). Như vậy, trong khái niệm BNCB đã bao hàm cả việc giới thiệu ứng cử.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể khái quát BNCB được thể hiện qua ba đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, BNCB là quyết định cử, giao cán bộ giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ cấu tổ chức nhất định. Có thể là BN cấp phó hoặc cấp trưởng. Việc BNCB luôn là động lực tích cực khích lệ đội ngũ cán bộ phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thứ hai, những cán bộ được BN vào vị trí mới được giao trách nhiệm và quyền hạn tương xứng.
BNCB là quyết định trao cho cán bộ đó một quyền hạn mới, cao hơn cương vị công tác hiện tại và đòi hỏi cá nhân đó phải phát huy trách nhiệm theo vị trí được BN. Thứ ba, BNCB giữ vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Độ chính xác của BNCB thể hiện chất lượng, hiệu quả của các khâu trong công tác cán bộ. BN đúng cán bộ sẽ góp phần làm cho tổ chức phát triển ổn định, nhiệm vụ chính trị vì thế sẽ hoàn thành tốt; ngược lại, BN sai cán bộ sẽ làm cho tổ chức trì trệ, rối loạn, nhiệm vụ bê trễ, khó hoàn 12 thành, thậm chí phát sinh những tiêu cực.
Từ đây có thể hiểu BNCB là việc cấp có thẩm quyền quyết định cử, giới thiệu ứng cử hoặc giao cho cán bộ một chức vụ, một trọng trách trong cơ quan, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: BNCB diện BTVHU Quế Sơn quản lý là việc tập thể BTVHU quyết định cử, giới thiệu cán bộ để bố trí giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức của hệ thống chính trị từ huyện đến các xã-thị trấn thuộc phạm vi phân cấp quản lý, nhằm mục đích sử dụng, quản lý cán bộ có hiệu quả, bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị chung của Đảng bộ huyện.