Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang đẩy tần suất và cường độ hiểm họa tự nhiên lên mức báo động. Trung bình mỗi năm trên thế giới có hơn 200 triệu người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các thảm họa tự nhiên. Tại Việt Nam, với đặc thù địa hình 3/4 diện tích là đồi núi cùng mạng lưới hơn 40.000 km sông ngòi và 3.000 km kênh rạch, thiên tai diễn biến ngày càng cực đoan và dị thường. Thống kê trong 20 năm qua cho thấy, mỗi năm thiên tai cướp đi sinh mạng hoặc làm mất tích trên 400 người, gây thiệt hại vật chất từ 1% đến 1,5% GDP, đe dọa trực tiếp đến thành quả xóa đói giảm nghèo và tiến trình phát triển bền vững của quốc gia.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là mô hình quản lý thiên tai truyền thống mang tính mệnh lệnh hành chính "từ trên xuống" (top-down) chủ yếu tập trung vào ứng phó khẩn cấp và cứu trợ sau thảm họa, bộc lộ nhiều hạn chế về tính bền vững cũng như khả năng huy động nguồn lực tại chỗ. Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích, đánh giá toàn diện quá trình xây dựng, thể chế hóa và tổ chức thực thi chính sách Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (QLRRTT-DVCĐ) tại Việt Nam dưới lăng kính khoa học chính sách công, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao năng lực tự thích ứng của người dân.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào tiến trình hoạch định và thực thi chính sách từ năm 2013 đến năm 2019, lấy cơ quan đầu mối quản lý nhà nước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng mạng lưới điều phối liên ngành từ Trung ương đến 63 tỉnh, thành phố. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đóng góp luận cứ khoa học để tối ưu hóa Đề án 1002 của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu thiết lập sáng kiến quản lý rủi ro cho 6.000 xã có tính dễ bị tổn thương cao nhất trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công hiện đại kết hợp với khung quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (Community-Based Disaster Risk Management - CBDRM):

  • Lý thuyết chu trình chính sách công: Tiếp cận theo tiến trình khép kín gồm khởi tạo sáng kiến, chấp thuận sáng kiến, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực thi và đánh giá tác động chính sách (dựa trên nền tảng lý luận của các học giả chính sách công tại Việt Nam).
  • Khung lý thuyết quản lý rủi ro thiên tai ba giai đoạn: Phân tích quy trình quản lý rủi ro gồm ba bước mắt xích chặt chẽ: Nhận diện nhân tố rủi ro (đối tượng chịu tác động và hiểm họa); Phân tích rủi ro (xác suất, cường độ và mức độ tổn thương); Kiểm soát rủi ro (công cụ công trình và phi công trình nhằm giảm nhẹ hoặc chuyển dịch rủi ro).

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Rủi ro thiên tai: Thiệt hại tiềm năng về người, tài sản, sinh kế và môi trường vượt quá năng lực tự chống chịu của hệ sinh thái xã hội.
  2. Tính dễ bị tổn thương: Các điều kiện vật chất, kinh tế, xã hội khiến một cá nhân hoặc nhóm cư dân dễ chịu tổn hại khi đối mặt hiểm họa.
  3. Phương châm 4 tại chỗ: Nguyên tắc nền tảng của Việt Nam gồm chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư - phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp từ hệ thống báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, Tổng cục Phòng chống thiên tai, các niên giám thống kê và văn bản quy phạm pháp luật (Luật Phòng, chống thiên tai 2013, Nghị quyết 76/NQ-CP 2018, Quyết định 1002/QĐ-TTg).

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu tài liệu được triển khai có chủ đích trên phạm vi 23 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái thiên tai đã từng áp dụng các mô hình dự án cộng đồng (như Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lào Cai, Nam Định, Thanh Hóa). Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết và đánh giá nhanh có sự tham gia của nông thôn (PRA) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đa chiều, giúp bóc tách sự giao thoa giữa ý chí chính trị của Nhà nước và nhu cầu thực tiễn của người dân cơ sở trong giai đoạn 2013–2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tiến độ thể chế hóa và độ phủ của chính sách: Đề án "Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng" (Đề án 1002) đã triển khai tập huấn, truyền thông cho 33.000 thành viên và khởi động tại hơn 1.000 xã. Tuy nhiên, con số này mới đạt khoảng 16,7% so với mục tiêu tổng thể là 6.000 xã trọng điểm, cho thấy khoảng cách lớn giữa văn bản chính sách và tốc độ thực thi tại địa phương.
  2. Cơ cấu phân bổ nguồn lực kỹ thuật: Trong các dự án thí điểm, tỷ trọng ngân sách dành cho hợp phần nâng cao năng lực phi công trình chiếm 70%, trong khi 30% dành cho các công trình hạ tầng quy mô nhỏ phục vụ phòng chống thiên tai. Cơ cấu này chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc tối ưu hóa chi phí so với các dự án công trình đê điều lớn của Nhà nước.
  3. Khoảng trống về bộ máy tổ chức cấp cơ sở: Dù hệ thống quản lý đã được kiện toàn ở cấp Trung ương với Tổng cục Phòng chống thiên tai, cấp xã vẫn hoàn toàn thiếu vắng chức danh công chức chuyên trách. 100% cán bộ phụ trách công tác phòng chống thiên tai cấp xã là kiêm nhiệm. Tại cấp tỉnh, vẫn còn 16/63 tỉnh chưa thành lập Phòng Phòng chống thiên tai chuyên trách trực thuộc Chi cục Thủy lợi, và 8 tỉnh còn tình trạng chia cắt quản lý giữa hai chi cục.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tán trên xuất phát từ nguyên nhân thể chế hóa chính sách chưa đồng bộ với Luật Cán bộ, công chức và sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn kinh phí tài trợ ngắn hạn của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Khi 17 tổ chức quốc tế rút lui sau giai đoạn 2003–2007, các mô hình tự quản tại 23 tỉnh sụt giảm hiệu quả do thiếu dòng ngân sách nhà nước duy trì định kỳ.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ rệt sự phân hóa rủi ro qua 5 vùng địa lý: Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; Duyên hải miền Trung và Nam Trung Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long; Miền núi và Tây Nguyên; Vùng biển. Việc biểu diễn ma trận hiểm họa qua bảng phân vùng và biểu đồ tần suất xuất hiện rủi ro (lũ quét, sạt lở đất, xâm nhập mặn) cho thấy các địa phương miền núi chịu tổn thương nặng nề nhất về nhân mạng do lượng mưa cực đoan, trong khi vùng Đồng bằng sông Cửu Long chịu áp lực dài hạn về xâm nhập mặn và triều cường. So sánh với kinh nghiệm quốc tế tại Nhật Bản—nơi giáo dục thảm họa học đường và "túi cứu nạn tự túc 3–7 ngày" trở thành chuẩn mực bắt buộc—Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy "ứng phó thụ động" sang "chủ động chuẩn bị" gắn với quản trị rủi ro đa tầng.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  HỆ THỐNG PHÂN VÙNG THIÊN TAI VIỆT NAM                  |
+------------------------------------+------------------------------------+
| Vùng địa lý                        | Hiểm họa thiên tai chính           |
+------------------------------------+------------------------------------+
| 1. Đồng bằng Bắc Bộ & Bắc Trung Bộ | Lũ sông, bão, ngập lụt, hạn hán    |
| 2. Duyên hải miền Trung & Nam Bộ   | Bão mạnh, nước dâng, hạn hán       |
| 3. Đồng bằng sông Cửu Long         | Xâm nhập mặn, lũ chậm, triều cường |
| 4. Miền núi và Tây Nguyên          | Lũ quét, sạt lở đất, rét hại       |
| 5. Vùng biển                       | Bão nhiệt đới, áp thấp, sóng lớn   |
+------------------------------------+------------------------------------+

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa khung năng lực và chức danh nhân sự chuyên trách: Bộ Nội vụ phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành thông tư quy định vị trí việc làm chuyên trách hoặc bán chuyên trách về phòng chống thiên tai tại 100% UBND cấp xã thuộc vùng rủi ro cao trước năm 2025.
  2. Thiết lập cơ chế tài chính công bền vững cho cấp cơ sở: Bộ Tài chính và UBND các tỉnh cần bố trí tối thiểu 10% đến 15% nguồn chi thường xuyên hàng năm của Quỹ Phòng, chống thiên tai cấp tỉnh phân bổ trực tiếp cho các sáng kiến đánh giá rủi ro có sự tham gia của người dân (VCA) tại thôn bản.
  3. Phổ cập chương trình giáo dục an toàn thiên tai học đường: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp lồng ghép kiến thức phòng ngừa thiên tai và kỹ năng sinh tồn vào 100% trường phổ thông tại 6.000 xã mục tiêu; huấn luyện mỗi hộ gia đình chủ động chuẩn bị trang thiết bị cứu hộ thiết yếu bảo đảm tự duy trì đời sống từ 3 đến 5 ngày khi bị cô lập.
  4. Số hóa bộ công cụ đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng: Tổng cục Phòng, chống thiên tai chủ trì xây dựng hệ thống bản đồ số vi mô tích hợp GIS về hiểm họa ngập lụt, sạt lở đất tại cấp xã giai đoạn 2021–2030, trao quyền để người dân tự cập nhật dữ liệu cảnh báo sớm theo thời gian thực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cán bộ Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng, chống thiên tai, Tổng cục Phòng, chống thiên tai, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh dùng làm căn cứ sửa đổi văn bản dưới luật và thiết kế chương trình mục tiêu quốc gia.
  • Lãnh đạo chính quyền địa phương: Chủ tịch UBND cấp huyện, xã và cán bộ phụ trách thủy lợi - phòng chống thiên tai áp dụng trực tiếp quy trình 4 tại chỗ và cách thức thành lập đội xung kích phòng chống thiên tai cơ sở.
  • Tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đối tác phát triển quốc tế: Các chuyên gia dự án (như UNDP, World Bank, CECI) sử dụng dữ liệu để thiết kế các can thiệp viện trợ phi công trình phù hợp với thể chế pháp lý của Việt Nam.
  • Giảng viên và học viên sau đại học: Nhà nghiên cứu ngành Chính sách công, Quản lý công, Biến đổi khí hậu và Khoa học môi trường tham khảo mô hình phân tích chu trình chính sách kết hợp công cụ đánh giá rủi ro thiên tai.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRM) khác gì so với phương thức truyền thống?

Phương thức truyền thống vận hành theo hướng "từ trên xuống", tập trung vào cứu trợ bị động và công trình lớn. Ngược lại, CBDRM lấy người dân làm trung tâm, huy động tri thức bản địa, dành tới 70% nguồn lực cho nâng cao nhận thức, lập bản đồ hiểm họa và củng cố năng lực tự ứng phó tại chỗ của cộng đồng.

Phương châm "4 tại chỗ" có vai trò gì trong chính sách phòng chống thiên tai?

Phương châm "4 tại chỗ" gồm chỉ huy, lực lượng, vật tư và hậu cần tại chỗ là trụ cột của chính sách PCTT Việt Nam. Trong các thảm họa chia cắt giao thông, phương châm này quyết định đến 90% hiệu quả cứu hộ sinh mạng trong "khung giờ vàng" đầu tiên trước khi lực lượng cứu hộ bên ngoài tiếp cận.

Mục tiêu then chốt của Đề án 1002 giai đoạn 2009–2020 là gì?

Đề án 1002 đặt mục tiêu nâng cao nhận thức và tập huấn kỹ năng quản lý rủi ro thiên tai cho trên 70% dân số tại 6.000 xã dễ bị tổn thương nhất cả nước, đồng thời thể chế hóa mô hình quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng thành nhiệm vụ thường xuyên của chính quyền các cấp.

Thách thức lớn nhất khi triển khai các dự án cộng đồng tại Việt Nam là gì?

Thách thức lớn nhất là tính bền vững sau khi các tổ chức phi chính phủ kết thúc tài trợ. Hoạt động tại 23 tỉnh trước đây cho thấy, nếu thiếu dòng ngân sách nhà nước đối ứng và cơ chế ràng buộc trách nhiệm của cán bộ xã, các sáng kiến cộng đồng sẽ nhanh chóng bị gián đoạn.

Chính sách hiện nay hỗ trợ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như thế nào?

Luật PCTT 2013 và các văn bản hướng dẫn quy định ưu tiên đặc biệt trong sơ tán, cứu trợ và phục hồi sinh kế cho 6 nhóm yếu thế: trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo và người nghèo.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình chính sách công áp dụng trong lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại Việt Nam.
  • Đánh giá thực chứng tiến độ Đề án 1002 (đã triển khai hơn 1.000 xã, đào tạo 33.000 thành viên) và chỉ rõ các nút thắt về cơ cấu bộ máy kiêm nhiệm cấp xã cũng như sự thiếu hụt kinh phí sau dự án.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng để hoàn thiện Luật Phòng, chống thiên tai và định hình Nghị quyết 76/NQ-CP theo hướng chuyển giao quyền hạn, ngân sách cho cơ sở.
  • Đề xuất lộ trình đến năm 2025–2030 chuẩn hóa 100% cán bộ phụ trách tại các xã trọng điểm và số hóa công cụ bản đồ rủi ro thiên tai có sự tham gia của người dân.
  • Kêu gọi các cấp quản lý, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư cùng hành động để chuyển hóa từ "cộng đồng dễ bị tổn thương" thành "cộng đồng an toàn, kiên cường trước thiên tai".