CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CƠ SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận về chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở 1. Một số khái niệm 1. Văn hóa và văn hóa cơ sở a/ Khái niệm “văn hoá” Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Tùy theo mỗi ngành khoa học, mỗi trường phái nghiên cứu có nhãn quan và chiêm nghiệm khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong bài Khái luận về văn hóa, Trần Ngọc Thêm viết: “Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hóa. Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ… là văn hóa; cái vật chất như ăn, ở, mặc… cũng là văn hóa… Từ “văn hóa” biết bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau” [58,tr. Như vậy, văn hóa là một khái niệm rộng và có nội hàm phong phú nên trên thế giới cũng như trong nước, hiện tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Tuy nhiên, trên thực tế những ai nghiên cứu văn hóa đều dựa vào một định nghĩa đã có hoặc đưa ra định nghĩa về khái niệm này làm công cụ nhận thức nhằm đảm bảo tính nhất quán và là cơ sở để nghiên cứu. Chính vì vậy, định nghĩa về văn hóa không ngừng gia tăng. Con người có khả năng sáng tạo văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội; con người cũng chính là chủ thể tiếp thu văn hóa, bảo tồn cũng như truyền đạt văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một nền văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên.
Việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá thay đổi theo thời gian. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa), cuốn sách này sau đó được tái bản lại năm 2018. Trong đó tác giả đã đưa ra khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp.
Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm 11 n lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [50, tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví định nghĩa này mang tính “Bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [21, tr. Theo định nghĩa trên thì văn hóa là tất cả những gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng, tình cảm đến ý thứcvà sức đề kháng của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc.
Trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, xuất bản đầu tiên năm 1938, Ðào Duy Anh quan niệm nghiên cứu chuyển biến sinh hoạt của một dân tộc trên các phương diện kinh tế, xã hội, trí thức chính là nghiên cứu lịch sử văn hóa của dân tộc ấy, nên ông cho rằng: “Văn hóa là cách sinh hoạt của con nguời”[1, tr. Cùng với quan niệm ấy, Nguyễn Hồng Phong cũng định nghĩa: “Văn hóa là cái do con nguời sáng tạo ra, là nhân hóa” [45]. Riêng Phan Ngọc lại có quan niệm khác: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Ðiều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc nguời khác” [43, tr.
Ta thấy, mặc dù tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng nhìn chung, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất, văn hóa chính là sản phẩm của một cộng đồng người cùng tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử. Mỗi một dân tộc, mỗi cộng đồng người đều có nền văn hóa riêng, biểu hiện ở lối sống, nếp sống phù hợp với điều kiện tự nhiên mà họ cư trú. Ðồng thời, cũng chính vì mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng nên muốn tìm hiểu bản sắc của một dân tộc nào đó thì không thể không khảo sát bộ mặt văn hóa của dân tộc đó. 12 n Tóm lại, có thể hiểu định nghĩa Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
Văn hóa là sự thống nhất hữu cơ giữa giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần. Cùng với sự ra đời và hình thành các dân tộc, văn hóa phát triển dưới các hình thức dân tộc. Nội dung của văn hóa cũng rất phong phú, nhưng chung quy có thể xác định trong bốn mặt: các thành tựu thuộc văn hóa vật chất, các thành tựu của văn hóa nhận thức (nhân sinh quan, thế giới quan, triết học, mỹ học, văn học, nghệ thuật…), các thành tựu của văn hóa ứng xử (bao gồm các thang giá trị trong cách ứng xử với thiên nhiên và ứng xử với con người, với gia đình, với xã hội…), các thành tựu của văn hóa tổ chức đời sống (bao gồm các thang giá trị trong cách tổ chức đời sống gia dình, cộng đồng, xã hội…). Nội dung đó dã xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa.
b/ Khái niệm “văn hoá cơ sở” Cụm từ “cơ sở” hàm chứa nhiều nghĩa, nhưng nó được dùng ít nhất trên ba phương diện ngữ nghĩa sau: - Cơ sở được quan niệm như những gì căn bản, làm nền, làm gốc, làm căn cứ chính cho một lĩnh vực hoạt động, hay một tri thức nào đó. Ví dụ: Cơ sở lý luận, cơ sở văn hóa, cơ sở vật chất… - Cơ sở được quan niệm như một địa điểm, địa chỉ, tụ điểm trung tâm… diễn ra một loại hình hoạt động nào đó về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội như: Cơ sở hoạt động cách mạng, cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo, cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, v. - Cơ sở được quan niệm như một địa bàn, một đơn vị hành chính, một tổ chức… có cơ cấu hoàn chỉnh ở cấp cuối cùng của một hệ thống. Ví dụ, trong hệ thống chính trị có Đảng bộ cơ sở, Đoàn cơ sở, Công đoàn cơ sở hay đơn vị hành chính cấp cơ sở… Ở nước ta, bộ máy tổ chức quản lý nói chung đều tổ chức theo 4 cấp: (1) Trung ương – (2) Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương – 2 đô thị loại đặc biệt và 3 số đô thị cấp I) – (3) Huyện (thành phố trực thuộc tỉnh/quận (của thành phố trực thuộc trung ương)/ huyện) và(4) Xã (phường, thị trấn).
Đơn vị “cơ sở” là hình thức tổ chức cơ bản của văn hóa. Đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày của nhân dân [54, tr. Lâu nay, ngành VHTT thường tập trung chú ý nhiều đến việc xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn cơ sở (theo phân cấp hành chính), cho nên lý luận phương pháp công tác cũng chỉ mới nói đến việc 13 n xây dựng đời sống văn hóa theo địa bàn.Trong trường hợp đang bàn, từ “cơ sở” gắn với ý nghĩa thứ ba, “cơ sở” ở đây được hiểu là một địa bàn, địa điểm cụ thể, gắn với một đơn vị hànhchính cơ bản hoặc một đơn vị cụ thể của một tổ chức chính trị xã hội. Từ những luận điểm, khái niệm trên có thể hiểu văn hoá ở cơ sở là văn hoá diễn ra ở cộng đồng: gia đình, khu dân cư, tổ dân phố, doanh nghiệp, cơ quan, bệnh viện trên một không gian địa lý nhất định… Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ văn hoá cơ sở là các hoạt động văn hoá diễn ra gắn liền với sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng trong các mối liên kết thường xuyên và trực tiếp với không gian địa lý nhất định cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và các thiết chế văn hoá nhất định.
Mỗi cộng đồng dân cư sống cố định và hình thành một tổ chức hành chính (xã, phường, trường học, bệnh viện) hay một cộng đồng nhỏ hơn (gia đình, tổ dân phố, khu dân cư…) đều có thể được xem là đơn vị văn hoá cơ sở. Chính sách phát triển văn hoá ở cơ sở là xây dựng, thực hiện các chính sách văn hoá ngay từ trong gia đình và trong cộng đồng dân cư, cộng đồng nghề nghiệp diễn ra sinh hoạt văn hoá thường nhật của quần chúng nhân dân.Tuy vậy, do hạn chế về thời gian và dung lượng khoa học, luận văn chỉ đề cập quá trình xây dựng, ban hành 4 chính sách cụ thể trên ở cấp thành phố Đà Nẵng, cấp quận (Hải Châu) và quá trình triển khai, thực hiện các chính sách đó ở cấp quận (Hải Châu) và cấp phường (các phường thuộc địa bàn quận Hải Châu). Chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở a/ Chính sách văn hoá Chính sách văn hóa là một bộ phận của chính sách công, đã được thế giới quan tâm trong những thập kỷ gần đây với định nghĩa của các chuyên gia văn hoá tại Monaco năm 1967 và của UNESCO cuối thế kỷ XX.