Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC 1. Chính sách phát triển nhân lực 1. Khái niệm và nội dung liên quan 1. Chính sách công Theo Cao Quốc Hoàng và Nguyễn Đỗ Kiên: “Chính sách đã và đang trở thành một khoa học độc lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đã phát triển.
Mặc dù chính sách công ở các quốc gia khác nhau và ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nên vẫn còn những cách hiểu tương đối khác biệt. Tuy nhiên, nhìn chung ở các quốc gia và giới học thuật đều đã thống nhất với nhau rằng chính sách công thuộc về lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội.34] Theo Thái Xuân Sang “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng”. [31] Theo Đỗ Đức Quân và Nguyễn Thị Thanh Tâm, các tác giả đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế -xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”.46] Chính sách công có những đặc trưng sau: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước. Chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.
Các quyết định chính sách là quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo các mục tiêu xác định. Chính sách công được 9 nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia. Chính sách công bao gồm những việc nhà nước lựa chọn làm và không làm.
Như vậy có thể hiểu: Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định. Nhân lực Theo Cơ quan Phát triển của Liên Hiệp quốc UNDP: “Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [43, tr. 22-23] Theo Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải thì trên phạm vi quốc gia, nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể.
31] Theo quy định của Tổng cục Thống kê thì nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang ở trong các tình trạng sau đây: đang thất nghiệp, đang làm nội trợ trong gia đình mình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động.10] Theo Lê Văn Tâm và Ngô Kim Thanh: “Nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người”. Theo nghĩa hẹp có nhân lực xã hội và nhân lực doanh nghiệp. “Nhân lực xã hội là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động”, “Nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người trong danh sách của doanh nghiệp”.28] Theo Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [15, tr.13] Như vậy, có thể hiểu: nhân lực ở góc độ vĩ mô là nguồn lực con người, là toàn bộ dân cư trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động, bao gồm các năng lực về thể lực, trí lực, tâm lực, kỹ năng nghề nghiệp ở dạng tiềm năng và thực 10 tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong phạm vi của một doanh nghiệp, nhân lực bao gồm tất cả những người lao động của doanh nghiệp được phản ánh qua quy mô, cơ cấu và chất lượng nhân lực.
Phát triển nhân lực Theo quan niệm của Liên Hiệp quốc: phát triển nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân lực [44, tr. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh: “Phát triển nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nhân lực, tạo ra cơ cấu nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ các nhân, phát triển nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao.56, 57] Theo Nguyễn Đình Tấn và Trần Thị Bích Hằng: “Phát triển nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội” [33, tr.32] Từ các quan điểm trên, có thể thấy phát triển nhân lực là quá trình thay đổi về mặt thể lực, trí lực, tâm lực cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân công lao động, đồng thời nâng cao trình độ nghề nghiệp, cải thiện hiệu quả làm việc của nhân lực và hiệu quả hoạt động của cơ quan phân công lao động. Chính sách phát triển nhân lực Theo Vũ Đăng Minh và Lê Thị Lam Hương: “Nhà nước thể chế hóa các đường lối chủ trương, nhiệm vụ của Đảng vào các văn bản pháp quy nhằm chăm lo, 11 giáo dục công dân trở thành nhân lực chất lượng cao đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế” [23, tr.52] Cùng với các khái niệm về chính sách công, nhân lực và phát triển nhân lực đã trình bày ở trên, tác giả luận văn quan niệm: Chính sách phát triển nhân lực là những hành động ứng xử của Nhà nước trong việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng vào các văn bản pháp luật nhằm chăm lo, giáo dục công dân trở thành nhân lực chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế.
Chính sách phát triển nhân lực bao gồm các bộ phận cơ bản sau: - Cơ quan ban hành chính sách phát triển nhân lực là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: cấp Trung ương là Quốc hội và Chính phủ, cấp dưới là các bộ ngành, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp. - Chính sách phát triển nhân lực được thể hiện thông qua các văn bản pháp luật và pháp quy như luật, nghị định, nghị quyết, thông tư… - Mục tiêu của chính sách phát triển nhân lực là nâng cao, phát triển toàn diện nhân lực về thể lực, trí lực và tác phong, kỷ luật, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu hợp lý, trong đó ưu tiên các nhân lực còn hạn chế để từng bước thu hẹp khoảng cách với trình độ chung của quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhu cầu thị trường lao động hiện tại và tương lai; xây dựng đội ngũ trí thức, doanh nhân, cán bộ và lao động trực tiếp có chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh quốc gia. - Các nguyên tắc: quan điểm chỉ đạo hành vi của Nhà nước trong quá trình hoạch định, tổ chức và thực hiện chính sách: các nghị quyết, quyết định của Đảng về đường lối, chủ trương, định hướng về phát triển nhân lực; các quyết định, hướng dẫn, chỉ đạo của Chính phủ, các bộ ngành và các địa phương. 12 - Phân loại chính sách phát triển nhân lực bao gồm: + Nhóm chính sách bảo vệ và tăng cường thể lực: là nhóm chính sách chăm sóc, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện con người.
+ Nhóm chính sách phát triển trí lực và kỹ năng, bao gồm chính sách phát triển giáo dục và chính sách đào tạo nhân lực + Nhóm chính sách tuyển dụng và sử dụng nhân lực, tác động trực tiếp đến quá trình quản lý nhân lực. Các chính sách phát triển nhân lực ở Việt Nam hiện nay Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 thể hiện quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nhân lực nước ta thời kỳ 2011-2020: “Phát triển nhân lực toàn diện, gồm những yếu tố thể lực, tri thức, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị, xã hội theo yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển đất nước bền vững. Phát triển nhân lực phải có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển nhân tài, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Trong từng thời kỳ nhất định, theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước và đặc điểm bối cảnh quốc tế, phải tập trung giải quyết những vấn đề cốt yếu có tác động quyết định đến sự phát triển nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội.”[35] Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 thể hiện quan điểm: “Con người là trung tâm của phát triển bền vững.