Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1. Khái niệm về làng nghề thủ công mỹ nghệ 1. Khái quát chung Nước ta khi nói đến nông thôn không thể không nói đến nghề thủ công của các làng nghề, được hình thành từ lâu đời và phát triển rộng khắp trong các làng quê. Phần lớn các nghề phát triển mạnh từ sáu, bảy trăm năm lại đây.
Nhưng cũng có những nghề đã đạt tới đỉnh cao từ vài ba nghìn năm về trước như nghề đúc đồng, làm gốm v.; một số nghề mới hình thành trong mấy chục năm qua như thêu trắng, ren, dệt thảm v.v… Các nghề thủ công phát triển theo từng làng và luôn gắn bó với nguời nông dân, trở thành nghề phụ không thể thiếu được bên cạnh nghề nông. Nhiều làng nghề đã nổi tiếng trong lịch sử với những sản phẩm có nét độc đáo riêng vì thế tên của sản phẩm luôn được gọi kèm theo tên của làng nghề sản xuất ra nó như gốm Bát Tràng, tre đan Phú Vinh, lụa Vạn Phúc, chạm bạc Đồng Sâm, đúc đồng Ngũ Xã v.v… Các nghề thủ công không chỉ để lại cho đời sau những sản phẩm phong phú, những công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao, kèm theo đó là cảnh quan, phong tục tập quán, lễ hội cũng rất đặc sắc của làng nghề. Truyền thống đó từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được của văn hoá dân gian, làm phong phú thêm truyền thống văn hoá dân tộc. Nghề và làng nghề trở thành bộ phận trong cơ cấu kinh tế nông thôn.
Ngày nay, các nghề thủ công vẫn liên tục phát triển với nhiều chủng loại mặt hàng mới, đem lại việc làm và nguồn thu nhập cho hàng triệu người, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước, phát triển đời sống nông thôn và giữ gìn bản sắc dân tộc. Theo cách gọi truyền thống thì nước ta có Luan van 6 hàng trăm nghề thủ công khác nhau. Hầu như làng nào cũng có nghề thủ công, riêng Hà Nội là đất trăm nghề với 1.270 làng, có nghề chiếm gần 56% tổng số làng, trong đó 244 làng nghề truyền thống. Hơn 600 làng có thu nhập trên 20 % từ nghề thủ công, 450 làng thu nhập trên 50 % từ nghề thủ công, một số làng hầu như chỉ sống bằng nghề thủ công.
Khái niệm về Nghề thủ công : Nghề thủ công: là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản. Thủ công mỹ nghệ: là các nghề thủ công làm ra các sản phẩm mỹ nghệ, hoặc các sản phẩm tiêu dùng được tạo hình và trang trí tinh xảo giống như sản phẩm mỹ nghệ.
Ở sản phẩm mỹnghệ, chức năng văn hoá, thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường Thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công. Cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công. Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ. Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành.
Khái niệm về Làng nghề Làng nghề: Là một hay nhiều cụm dân cư, thôn, ấp, bản làng, buôn, phun sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Luan van 7 Làng có nghề :Là làng được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế và đươc sự lan tỏa nghề từ những làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển. Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên. Làng nghề tiểu thủ công nghiệp: làng có nghề thủ công phát triển với một tỷ lệ số hộ làm nghề nhất định và tỷ lệ thu nhập từ nghề nhất định, trở thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếu được.
Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%. Ở Việt Nam đang có xu hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhập của làng từ nghề thủ công. Tỷ lệ đó phải được duy trì và ổn định trong nhiều năm. Vùng nghề: là sự phát triển, mở rộng của các làng nghề ra các vùng lân cận thành cả một vùng làm nghề thủ công, mà làng nghề là trung tâm; sản phẩm của vùng nghề thường theo đúng phong cách truyền thống của làng nghề.
Tên của vùng nghề thường lấy tên của làng nghề để gọi. Phân loại làng nghề: Dựa theo các tiêu chí khác nhau, làng nghề có thể phân loại như sau, theo lịch sử hình thành và phát triển các nghề thì có làng nghề truyền thống, làng nghề mới.; theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, có làng nghề TCMN, làng nghề chế biến thực phẩm, làng nghề cơ khí chế tác…; Theo qui mô của làng nghề, có làng nghề qui mô lớn, làng nghề qui mô nhỏ.; Theo loại hình kinh doanh của làng nghề, có làng nghề kinh doanh tổng hợp, làng nghề chuyên doanh sản phẩm truyền thống, làng nghề chuyên doanh sản phẩm truyền thống vừa phát triển ngành nghề mới…; Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh làng nghề, có các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp, vừa sản xuất kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp, các làng nghề thủ công chuyên nghiệp, các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu. Như vậy, làng nghề TCMN là một hoặc nhiều cụm dân cư ấp, thôn, bản, làng, phun sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có Luan van 8 các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm TCMN. Thủ công mỹ nghệ là các ngành nghề thủ công làm ra các sản phẩm hoặc các sản phẩm tiêu dùng được tạo hình và trang trí tinh xảo giống như sản phẩm mỹ nghệ.
Ở sản phẩm mỹ nghệ thì chức năng văn hóa, thẩm mỹ trở nên quan trọng không kém chức năng sử dụng thông thường.2 Phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ 1.1 Khái niệm phát triển Phát triển là sự chuyển biến từ trạng thái thấp sang trạng thái cao hơn, với trình độ và chất lượng cao hơn. Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định, bao gồm cả sự tăng lên về lượng và sự thay đổi về chất. Nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nên kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người, sự biến động theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội.
Vì vậy, phát triển làng nghề là sự tăng lên về cả số luợng, chất luợng, cơ cấu, tổ chức của làng nghề từ mức độ thấp lên mức độ cao thể hiện ở việc mở rộng về qui mô sản xuất, sụ gia tăng về mức đóng góp ngân sách và thu nhập bình quân đầu người, việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi truờng làng nghề.2 Tiêu chí đáng giá phảt triển làng nghề thủ công mỹ nghệ Đối với làng nghề TCMN, việc đánh giá sự phát triển thể hiện ở một số nội dung sau: - Các chỉ tiêu về lĩnh vực kinh tế: qui mô sản xuất, trình độ công nghệ, qui mô nguồn nguyên liệu, hoạt động thuơng mại; hoạt động du lịch. - Các chỉ tiêu về lĩnh vực xã hội, số việc làm, an tòan lao động. - Các chỉ tiêu về môi truờng, các chỉ tiêu kỹ thuật, nhận thức của ngừoi dân vê ô nhiễm môi truờng.3 Chính sách nhà nứớc về phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ 1.1 Khái niệm và vai trò của chính sách nhà nuớc về phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ 1.1 Khái niệm - Chính sách là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có chính sách riêng của mình. Có thể hiểu khái niệm này như sau: Chính sách theo quan niệm phổ biến là tổng thể các tư tưởng, quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của hệ thống theo định hướng mục tiêu tổng thể.
Chính sách là một chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Chính sách có ý nghĩa là một cá nhân hay tổ chức đã quyết định một cách thận trọng và có ý thức cách giải quyết các vấn đề tưong tự. - Chính sách nhà nước về phát triển làng nghề TCMN được hiểu như sau: chính sách nhà nước về phát triển làng nghề TCMN là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các làng nghề TCMN nhằm tăng trưởng về số lượng, tăng trưởng về qui mô kinh tế và có cơ cấu hợp lý nhằm sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong làng nghề, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống người dân và thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước. - Chính sách quản lý làng nghề là tổng thể các giải pháp, công cụ của Nhà nước quản lý sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu áp dụng hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để hướng dẫn các làng nghề phát triển đúng theo định hướng đã đặt ra trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế.