Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách PTBV LNTT; Chương 3: Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách PTBV LNTT ở Vùng ĐBSH; Chương 4: Một số quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách PTBV LNTT ở Vùng ĐBSH. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nhóm các công trình khoa học đã công bố liên quan đến phát triển bền vững Quan niệm về PTBV được nhiều tác giả, nhà khoa học nghiên cứu, đưa ra nhằm xác định rõ nhu cầu của PTBV. PTBV là một thuật ngữ ra đời trong bối cảnh sự phát triển kinh tế quá mức đã gây những tác động tiêu cực đến môi trường trên phạm vi toàn cầu.
Hội nghị Liên hợp quốc (1972), đã xác định mối quan hệ giữa môi trường và phát triển. Theo đó, Tuyên bố Stockholm cho rằng “Bảo vệ và cải thiện môi trường con người là một vấn đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới; đó là khao khát khẩn cấp của các dân tộc trên khắp thế giới và là nhiệm vụ của mọi Chính phủ”. Như vậy, theo Tuyên bố này, việc sử dụng các thuật ngữ “môi trường và phát triển”, “sự phát triển không gây hủy diệt”, “quản lý môi trường” tiến đến “PTBV về môi trường” hay “phát triển phù hợp với sinh thái” đã chứng tỏ vấn đề môi trường và phát triển, tuy không còn là những vấn đề mâu thuẫn, song PTBV mới chỉ là một vấn đề của môi trường, đặc biệt là của môi trường tự nhiên [55, tr. Ủy ban Brundtland (1987), đưa ra định nghĩa về PTBV với nội dung chính “là sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Báo cáo Brundtland đã góp phần tích cực vào việc phổ cập khái niệm PTBV trên quy mô toàn cầu. Chính báo cáo Brundtland là cội nguồn của thuật ngữ PTBV [134, tr.Ledec (1987) khẳng định PTBV là mô hình chuyển đổi KT-XH và cấu trúc nhằm tối ưu hóa các lợi ích có giá trị ở hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng của các lợi ích trong tương lai [149, tr.Valentin, and Joachim H. Spangenberg (1999) đã đưa ra mô hình lăng trụ của PTBV được cấu thành từ 4 chiều cạnh: kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế; trong đó, các chiều cạnh kinh tế, môi trường và xã hội tạo thành nền tảng của thể chế. Mỗi chiều cạnh của lăng trụ PTBV đều có những điều đòi hòi cần được chú ý [157].
Bob Giddings, Bill Hopwood, Geoff O'Brien (2002), cho rằng PTBV là một khái niệm gây tranh cãi, với nhiều quan điểm khác nhau từ nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu. PTBV thường được hiểu như là kết hợp hài hòa giữa môi trường, xã hội và kinh tế, được hình thành như là một thực thể riêng biệt mặc dù được kết nối. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tách biệt trong chính sách về môi trường, xã hội và kinh tế thường dẫn đến một cách tiếp cận hẹp, trong khi các vấn đề liên quan đến xã hội có nhiều khả năng thách thức cơ cấu KT-XH hiện nay, đặc biệt là tính bền vững của cộng đồng và duy trì sự đa dạng văn hóa [148, tr. Tại Việt Nam, nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến quan điểm của Vũ Văn Nâm (2009) cho rằng ở Việt Nam vấn đề PTBV trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn là một vấn đề mới.
Đặc biệt, sau hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được thì thực tiễn cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức khi xây dựng nền nông nghiệp theo hướng bền vững. Nội dung cuốn sách được kết cấu thành 3 chương, tập trung làm rõ các khái niệm về PTBV, nội dung PTBV và tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững có thể tham khảo cho Việt Nam [63]. Lưu Đức Hải và cộng sự (2000) trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho PTBV. Công trình này đã xác định PTBV qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa [42, tr.
Đỗ Phú Hải (2018), trong bai viết Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh ở Việt Nam đã làm sáng tỏ sự tương đồng và sự khác biệt, tính phổ quát và đặc thù trong lý luận phát triển bền vững và tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và ứng phó biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và công cụ chính sách xanh trong quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách công để đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Nghiên cứu về nhóm các công cụ chính sách xanh trong các ngành, lĩnh vực khác nhau là nhu cầu nghiên cứu mới phục vụ mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay [48]. Nguyễn Hoàng Nam và cộng sự (2020), cho rằng sự phát triển bền vững cần phải được nghiên cứu trong mối quan hệ với tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Theo nhóm tác giả sự xuất hiện của các thuật ngữ có vẻ tương đồng nhau như Tăng trưởng xanh, Kinh 12 tế xanh, Kinh tế tuần hoàn có thể gây một số bối rối, khiến việc nghiên cứu và xây dựng, triển khai các chính sách liên quan trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn. Bài viết đã làm rõ được bản chất của tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn qua đó xác định rõ được mối quan hệ giữa các thuật ngữ và sự thống nhất với phát triển bền vững [64]. Như vậy, Ủy ban Brundtland, tác giả Rachel, Tighe và Spangenberg cũng như các tác giả trong nước đều nhấn mạnh tầm quan trọng của thể chế và quá trình làm quyết định, trong đó thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau ở nhiều lĩnh vực khác nhau, có như vậy mới tạo ra một chính sách hoàn chỉnh trên tất cả các chiều cạnh của PTBV. Theo đó, có thể xem 3 trụ cột về PTBV nêu trên là 3 mục tiêu cần đạt được, đồng thời là 3 nội dung hợp thành quá trình của sự phát triển trong điều kiện hiện đại.
Tính bền vững được xem là một khái niệm đa phương tiện với nhiều khía cạnh có liên quan lẫn nhau, bao gồm các nhân tố sinh thái, môi trường kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hoá, đạo đức và chính trị. Vì thế, từ mục tiêu của việc bảo vệ môi trường, PTBV đã trở thành mục tiêu thiên niên kỷ của toàn cầu và đang dần trở thành một nền “khoa học định hướng” trong các vấn đề khoa học xã hội. Nhóm các công trình khoa học đã công bố liên quan đến chính sách công và đánh giá chính sách công Chính sách công và đánh giá chính sách công là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả, nhà khoa học: Elizabeth Eppel, David Tuner và Amanda Wolf (2011) cho rằng thực hiện chính sách vốn là rất phức tạp cho dù mục tiêu chính sách được tuyên bố là đơn giản hay phức tạp. Có hai mô hình thiết kế và thực hiện chính sách trái ngược nhau, đó là mô hình thiết kế và thực hiện chính sách thể hiện vai trò trung tâm của cơ quan nhà nước và mô hình thiết kế và thực hiện chính sách thực nghiệm.
Những đặc điểm của thực hiện chính sách, các nhân tố và vai trò trung tâm của cơ quan nhà nước trong thực hiện chính sách sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kết quả của chính sách cũng đã được tác giả trình bày tương đối hệ thống trong nghiên cứu của mình [146, tr. Basir chand (2009) cho rằng trên cơ sở so sánh hai phương pháp tiếp cận thực hiện chính sách công là phương pháp từ trên xuống và phương pháp từ dưới lên, tác giả đã đề xuất vận dụng thêm các phương pháp khác nhau như: phương pháp cơ 13 cấu, phương pháp thủ tục, phương pháp hành vi và phương pháp chính trị trong quá trình thực hiện chính sách trên cơ sở thấu hiểu bản chất của chính sách [143, tr. Michael Hill (1997) đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến mô hình thực hiện chính sách và trách nhiệm giải trình trong thực hiện chính sách của các cơ quan công quyền trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách [151, tr. Michael owlet và M.Ramesh (1995) đã hướng tới việc nghiên cứu mang tính lý thuyết về thực hiện chính sách trên cơ sở đưa ra khái niệm thực hiện chính sách, những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách và các phương pháp tiếp cận thực hiện chính sách [152, tr.
Quan niệm về chính sách công được nhiều tác giả tại Việt Nam nghiên cứu và đề xuất, gắn với đặc thù của thể chế chính trị, đặc điểm kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Nguyễn Trọng Bình (2015) đã phân tích vai trò của các tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách như một chủ thể quan trọng góp phần nâng cao năng lực chính sách công của các chính phủ. Sự phát triển của các tổ chức tư vấn và việc phát huy đầy đủ chức năng của chúng có tác dụng quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quản trị công và nâng cao chất lượng thể chế và chính sách [3, tr. Viện Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1999) có công trình đề cập đến những vấn đề cơ bản về khái niệm, cấu trúc và chu trình chính sách công - hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách công.
Tuy nhiên, cuốn sách cũng chỉ rõ: Chính sách công là lĩnh vực nghiên cứu tương đối mới, vì vậy đó chỉ là những nhận thức và cơ sở lý luận ban đầu cho những khảo sát cụ thể hơn về thực tế quy trình hoạch định chính sách ở nước ta [137, tr. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (2010) với nghiên cứu về chính sách công gồm 2 nội dung cơ bản: thứ nhất là cán cân thanh toán (mối liên hệ giữa cán cân thanh toán và sự phát triển kinh tế cũng như các vấn đề tỷ giá, lạm phát) và phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển; thứ hai là đầu tư công và nợ công (các yếu tố tác động đến quy mô và chất lượng của đầu tư công, vấn đề nợ công, chi tiêu công và PTBV), tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, cải cách thể chế và định vị lại vai trò của đầu tư công.