Luận văn: Thực hiện chính sách người có công tại huyện M'Drắk, Đắk Lắk

Luận văn về thực hiện chính sách người có công tại huyện M'Đrắk, Đắk Lắk. Nghiên cứu, đánh giá và giải pháp hoàn thiện chính sách ưu đãi.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2021

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG

1.1. Người có công và chính sách người có công

1.1.1. Người có công

1.1.2. Khái niệm chính sách người có công

1.1.3. Nội dung chính sách người có công với cách mạng

1.2. Thực hiện chính sách người có công

1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách người có công

1.2.2. Vai trò của thực hiện chính sách người có công

1.2.3. Chủ thể thực hiện chính sách người có công

1.2.4. Quy trình thực hiện chính sách người có công

1.2.5. Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách người có công

1.2.6. Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách người có công

1.3. Kinh nghiệm thực hiện chính sách người có công ở một số địa phương và bài học tham khảo cho huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN M’DRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

2.1. Khái quát về huyện M’Drắk, thực trạng người có công và ảnh hưởng đến thực hiện chính sách người có công

2.2. Tình hình triển khai thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện M’Drắk giai đoạn 2016 – 2020

2.2.1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách người có công

2.2.2. Công tác phổ biến tuyên truyền chính sách

2.2.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách người có công

2.2.4. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách

2.2.5. Công tác đánh giá, sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách người có công

2.3. Kết quả thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 – 2020

2.3.1. Kết quả thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng

2.3.2. Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm y tế

2.3.3. Kết quả thực hiện chính sách điều dưỡng phục hồi sức khỏe

2.3.4. Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở

2.3.5. Kết quả thực hiện chính sách ưu đãi trong tuyển sinh; tạo việc làm; hỗ trợ để theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ độ học

2.3.6. Kết quả thực hiện chính sách trợ cấp đột xuất

2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện M’Drắk giai đoạn 2016 – 2020

2.4.1. Những bất cập, hạn chế

2.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN M’DRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

3.1. Quan điểm, định hướng thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030

3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk

3.2.1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hiện hành đối với người có công với cách mạng

3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, chính sách ưu đãi người có công

3.2.3. Đẩy mạnh phối hợp trong thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng

3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong việc thực hiện các chính sách đối với người có công với cách mạng

3.2.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thực thi chính sách

3.2.6. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa công tác thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng

3.3. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Chính sách Người có công ở M Drắk Đắk Lắk Tổng quan và Ý nghĩa quan trọng

Việt Nam, với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các đối tượng có công với cách mạng. Chính sách ưu đãi người có công Đắk Lắk không chỉ là sự tri ân sâu sắc mà còn là nền tảng vững chắc cho sự ổn định xã hội và phát triển bền vững. Đặc biệt, tại huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk, việc triển khai và thực hiện chế độ người có công M'Drắk là một nhiệm vụ trọng tâm, phản ánh đạo lý dân tộc và trách nhiệm của Nhà nước đối với những đóng góp, hy sinh cao cả.

Pháp luật Việt Nam đã xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ để điều chỉnh và hướng dẫn việc thực hiện chính sách người có công. Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 (Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14), người có công bao gồm nhiều đối tượng khác nhau: người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945, người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thương binh, Bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, và người có công giúp đỡ cách mạng [Hòa Thị Hằng, 2021]. Mỗi đối tượng này đều có những quyền lợi người có công Đắk Lắk và chế độ ưu đãi riêng, được cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn.

Việc thực hiện chính sách tại M'Drắk không chỉ là công tác hành chính mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc. Chính sách này giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người có công và gia đình, đồng thời giáo dục thế hệ trẻ về giá trị lịch sử và truyền thống cách mạng. Sự ổn định chính trị - xã hội và sự tin tưởng của nhân dân vào chính quyền là những lợi ích to lớn mà chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk mang lại. Do đó, việc không ngừng hoàn thiện và thực thi hiệu quả các chính sách này luôn là ưu tiên hàng đầu của địa phương.

1.1. Khái niệm Người có công và Chính sách ưu đãi Định nghĩa và Phân loại đối tượng

Người có công với cách mạng được định nghĩa là công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác, đã cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định pháp luật [Hòa Thị Hằng, 2021]. Danh mục người có công rất đa dạng, bao gồm: Liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Thương binh, Bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, và người có công giúp đỡ cách mạng. Chính sách người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước nhằm ghi nhận công lao, sự cống hiến, hy sinh của những đối tượng này, thể hiện qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật [Hòa Thị Hằng, 2021]. Các văn bản pháp luật người có công quy định cụ thể về điều kiện công nhận người có công và các chế độ ưu đãi tương ứng.

1.2. Vai trò và Tầm quan trọng của Chính sách người có công Đắk Lắk Nền tảng phát triển bền vững

Chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. Đây là sự thể hiện lòng biết ơn, trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng đối với những người đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của dân tộc. Thực hiện tốt chính sách này góp phần ổn định xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội [Hòa Thị Hằng, 2021]. Sự quan tâm này cũng là động lực để thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm hơn với Tổ quốc, sẵn sàng cống hiến. Các quyền lợi người có công Đắk Lắk như trợ cấp người có công M'Drắk, hỗ trợ nhà ở người có công M'Drắk, ưu đãi giáo dục người có công, và điều dưỡng người có công giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội cho những người đã có công. Việc triển khai chính sách tại địa phương như M'Drắk khẳng định giá trị truyền thống và đạo đức dân tộc.

II. Thực trạng triển khai Chính sách Người có công tại M Drắk Những bất cập và Nguyên nhân

Huyện M'Drắk, nằm ở cửa ngõ phía Đông tỉnh Đắk Lắk, với dân số trên 73.000 người thuộc 17 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 49%, đối mặt với nhiều đặc thù về kinh tế - xã hội. Thực hiện chính sách ưu đãi người có công Đắk Lắk tại M'Drắk giai đoạn 2016-2020 đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của chính quyền địa phương. UBND huyện M'Drắk cùng các phòng ban chuyên môn đã tích cực triển khai các chủ trương, kế hoạch về chế độ người có công M'Drắk theo đúng quy định của Nhà nước.

Trong giai đoạn này, công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về người có công đã được đẩy mạnh, giúp người dân và đối tượng chính sách nắm bắt rõ hơn về quyền lợi người có công Đắk Lắk. Các hình thức hỗ trợ như trợ cấp người có công M'Drắk hàng tháng, trợ cấp đột xuất, cấp bảo hiểm y tế, điều dưỡng người có công, hỗ trợ nhà ở người có công M'Drắk, và ưu đãi giáo dục người có công đã được thực hiện tương đối đầy đủ, kịp thời. Theo báo cáo, tỷ lệ hộ nghèo là người có công đã giảm mạnh qua các năm, cho thấy hiệu quả tích cực của chính sách trong việc cải thiện đời sống [Hòa Thị Hằng, 2021].

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk vẫn còn đối mặt với một số bất cập và hạn chế. Những vấn đề này gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý và đối tượng thụ hưởng, ảnh hưởng đến hiệu quả tổng thể của chính sách. Việc nhận diện và phân tích nguyên nhân của những hạn chế này là rất quan trọng để đưa ra các giải pháp khắc phục trong thời gian tới, nhằm đảm bảo quyền lợi người có công Đắk Lắk được thực hiện một cách công bằng và hiệu quả nhất.

2.1. Những kết quả nổi bật trong thực hiện chế độ người có công M Drắk Giai đoạn 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020, huyện M'Drắk đã triển khai hiệu quả nhiều chế độ người có công M'Drắk. Các khoản trợ cấp người có công M'Drắk hàng tháng, phụ cấp và trợ cấp một lần được chi trả kịp thời, đảm bảo an sinh cho các đối tượng. Công tác cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người có công và thân nhân đạt tỷ lệ cao, giúp họ tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn. Các chương trình điều dưỡng người có công phục hồi sức khỏe cũng được tổ chức định kỳ. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ nhà ở người có công M'Drắk đã giúp nhiều gia đình cải thiện điều kiện sống. Báo cáo từ luận văn của Hòa Thị Hằng (2021) chỉ rõ: "Tỷ lệ hộ nghèo là người có công giảm mạnh qua các năm." Điều này khẳng định những nỗ lực đáng kể của địa phương trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người có công.

2.2. Điểm nghẽn và thách thức trong việc thực hiện quyền lợi người có công Đắk Lắk Nguyên nhân và tác động

Mặc dù có nhiều nỗ lực, chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk vẫn tồn tại những điểm nghẽn. Một trong những khó khăn lớn là sự phức tạp của thủ tục hưởng chính sách người có công và việc quản lý hồ sơ người có công Đắk Lắk. Văn bản hướng dẫn từ Trung ương đôi lúc chưa kịp thời, chưa thống nhất, gây vướng mắc trong việc giải quyết các trường hợp đặc thù như người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học hay công nhận Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách tại cấp xã, thị trấn thường là lao động hợp đồng, thiếu kinh nghiệm, dẫn đến tình trạng ỷ lại vào cấp trên và chưa nghiên cứu kỹ văn bản [Hòa Thị Hằng, 2021]. Hơn nữa, sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong giải quyết hồ sơ người có công Đắk Lắk còn chưa chặt chẽ, làm chậm trễ quá trình thụ hưởng quyền lợi người có công Đắk Lắk.

III. Hướng dẫn Tối ưu hóa Quy trình Thực hiện Chính sách Người có công ở M Drắk Nâng cao hiệu quả quản lý

Để chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk đạt hiệu quả cao hơn, việc tối ưu hóa quy trình thực hiện là yếu tố then chốt. Quy trình này bao gồm năm bước cơ bản: xây dựng kế hoạch, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp, theo dõi kiểm tra đôn đốc, và đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm [Hòa Thị Hằng, 2021]. Mỗi bước đều cần được thực hiện một cách chủ động, sáng tạo và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành.

UBND huyện M'DrắkSở Lao động Thương binh và Xã hội Đắk Lắk cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra để đảm bảo các chính sách được triển khai đúng quy định và kịp thời. Việc cải cách thủ tục hành chính, tinh gọn quy trình giải quyết hồ sơ người có công Đắk Lắk là cần thiết để giảm bớt gánh nặng cho đối tượng và cán bộ. Đồng thời, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là tại Phòng Lao động Thương binh và Xã hội M'Drắk và cấp xã, sẽ cải thiện đáng kể chất lượng phục vụ và độ chính xác trong công tác thẩm định, xét duyệt.

Sự đồng bộ trong các văn bản pháp luật người có công từ Trung ương đến địa phương cũng là một yếu tố quan trọng. Khi các quy định rõ ràng, thống nhất, việc triển khai sẽ thuận lợi hơn, hạn chế các vướng mắc phát sinh. Hơn nữa, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý danh mục người có công và theo dõi quá trình thụ hưởng sẽ giúp minh bạch hóa, tăng cường hiệu quả và giảm thiểu sai sót. Tối ưu hóa quy trình không chỉ giúp thực hiện tốt hơn các chế độ người có công M'Drắk mà còn xây dựng lòng tin vững chắc trong cộng đồng.

3.1. Bí quyết Xây dựng kế hoạch và Tuyên truyền pháp luật về người có công hiệu quả

Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách cần đảm bảo các dự kiến về cơ quan chủ trì, nhân sự, cơ chế trách nhiệm, nguồn lực tài chính, và thời gian triển khai [Hòa Thị Hằng, 2021]. Kế hoạch phải cụ thể, có lộ trình rõ ràng cho việc phổ biến, tuyên truyền văn bản pháp luật người có công. Công tác tuyên truyền cần đa dạng hóa hình thức: trực tiếp, qua phương tiện thông tin đại chúng, và thông qua các buổi hội thảo tại cơ sở. Mục tiêu là giúp người có công và cộng đồng hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, và tính đúng đắn của chính sách, đặc biệt là về điều kiện công nhận người có công và các quyền lợi người có công Đắk Lắk. Tuyên truyền liên tục, thường xuyên giúp củng cố niềm tin và thúc đẩy sự tự giác tham gia thực hiện chính sách của người dân.

3.2. Cách thức Phối hợp liên ngành và Đôn đốc thực thi chính sách ưu đãi người có công Đắk Lắk

Phối hợp liên ngành là yếu tố then chốt để thực thi chính sách ưu đãi người có công Đắk Lắk một cách hiệu quả. UBND huyện M'Drắk cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa Phòng Lao động Thương binh và Xã hội M'Drắk với các phòng ban khác như Y tế, Xây dựng, Tài chính trong việc giải quyết các chế độ như cấp bảo hiểm y tế, hỗ trợ nhà ở người có công M'Drắk, hay ưu đãi giáo dục người có công. Công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc cần được tiến hành thường xuyên để nắm vững tình hình, phát hiện và xử lý kịp thời các bất cập, vi phạm. Hoạt động đôn đốc giúp thúc đẩy các chủ thể nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và phòng chống các hành vi tiêu cực, đảm bảo quyền lợi người có công Đắk Lắk được bảo vệ.

IV. Nâng cao Hiệu quả Chăm sóc Người có công ở M Drắk Các giải pháp đột phá

Để thực hiện hiệu quả hơn nữa chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk, cần có những giải pháp đột phá tập trung vào việc củng cố năng lực thực thi và huy động nguồn lực xã hội. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác chính sách là một trong những ưu tiên hàng đầu. Luận văn của Hòa Thị Hằng (2021) đã chỉ ra rằng, năng lực của cán bộ quyết định chất lượng và hiệu quả việc thực thi chính sách. Điều này bao gồm khả năng nắm bắt pháp luật về người có công, kỹ năng giải quyết hồ sơ người có công Đắk Lắk và khả năng phối hợp liên ngành.

Bên cạnh đó, việc đảm bảo nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đầy đủ là yếu tố không thể thiếu. Nguồn lực này không chỉ đến từ Ngân sách Nhà nước mà còn cần được huy động từ các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng thông qua các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa". Khi có đủ nguồn lực, các chế độ người có công M'Drắk như trợ cấp người có công M'Drắk, điều dưỡng người có công, hỗ trợ nhà ở người có công M'Drắk sẽ được mở rộng và nâng cao mức thụ hưởng, góp phần cải thiện rõ rệt đời sống của người có công và thân nhân.

Mặt khác, công tác xã hội hóa cần được đẩy mạnh để toàn xã hội cùng chung tay chăm sóc người có công. Điều này không chỉ thể hiện truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" mà còn tạo ra một môi trường sống tốt đẹp hơn cho các đối tượng chính sách. Việc tri ân những cống hiến của thân nhân liệt sĩ M'Drắk, thương binh M'Drắk, bệnh binh Đắk Lắk, và người hoạt động kháng chiến M'Drắk không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là của mỗi cá nhân, tổ chức trong cộng đồng. Những giải pháp này sẽ tạo động lực mạnh mẽ, giúp chính sách ưu đãi người có công Đắk Lắk phát huy tối đa hiệu quả trong thực tiễn.

4.1. Tăng cường Năng lực cán bộ và Tài chính cho công tác người có công tại Đắk Lắk Đảm bảo nguồn lực bền vững

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội Đắk LắkPhòng Lao động Thương binh và Xã hội M'Drắk là trọng tâm. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về pháp luật về người có công, kỹ năng nghiệp vụ, và cập nhật các văn bản pháp luật người có công mới nhất. Năng lực này bao gồm khả năng xây dựng kế hoạch, tuyên truyền, phân công, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc và đánh giá chính sách [Hòa Thị Hằng, 2021]. Về tài chính, cần đảm bảo nguồn ngân sách nhà nước và đẩy mạnh huy động từ các quỹ "Đền ơn đáp nghĩa". Khi nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đầy đủ, việc thực hiện các chế độ người có công M'Drắk như trợ cấp người có công M'Drắk, mai táng phí người có công Đắk Lắk sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn, đảm bảo quyền lợi người có công Đắk Lắk.

4.2. Giải pháp Xã hội hóa và Tri ân sâu sắc đến thân nhân liệt sĩ M Drắk và các đối tượng khác

Công tác xã hội hóa là giải pháp quan trọng để tăng cường chăm sóc người có công. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tại M'Drắk cần đẩy mạnh vận động nhân dân, các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp xây dựng quỹ "Đền ơn đáp nghĩa", thực hiện các chương trình tình nghĩa. Các hoạt động tri ân thân nhân liệt sĩ M'Drắk, thương binh M'Drắk, bệnh binh Đắk Lắk, người hoạt động kháng chiến M'Drắk, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Đắk Lắk cần được tổ chức thường xuyên, chu đáo vào các dịp lễ, Tết. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống vật chất mà còn động viên tinh thần, củng cố niềm tin và sự tự hào của các gia đình chính sách. Việc đẩy mạnh xã hội hóa góp phần thực hiện hỗ trợ người có công Đắk Lắk một cách toàn diện và bền vững.

V. Kinh nghiệm quý báu từ các địa phương và Định hướng Phát triển Chính sách Người có công tại M Drắk

Việc học hỏi từ kinh nghiệm thực tiễn của các địa phương khác là một cách hiệu quả để M'Drắk tối ưu hóa chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk. Các huyện như Cư Mgar và Krông Pắk thuộc tỉnh Đắk Lắk đã có những thành công và cả những hạn chế nhất định trong việc triển khai chính sách ưu đãi người có công Đắk Lắk. Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu này cung cấp cái nhìn thực tế, giúp UBND huyện M'Drắk và các cơ quan liên quan đưa ra các quyết sách phù hợp, tránh lặp lại sai lầm và phát huy hiệu quả các mô hình tốt.

Kinh nghiệm từ Cư Mgar cho thấy sự thành công trong việc chi trả chế độ ưu đãi thường xuyên, xây dựng quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" và tổ chức điều dưỡng người có công tập trung. Tuy nhiên, Cư Mgar cũng gặp hạn chế về tuyên truyền chưa sâu rộng, triển khai chính sách chưa kịp thời và tồn đọng hồ sơ, đặc biệt là với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học [Hòa Thị Hằng, 2021]. Huyện Krông Pắk cũng đạt được nhiều thành tựu trong chi trả trợ cấp, bảo hiểm y tế và ưu đãi giáo dục người có công, nhưng vẫn đối mặt với tình trạng tồn đọng hồ sơ và vi phạm của một số cán bộ. Những bài học này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thanh tra, kiểm tra, và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.

Dựa trên những phân tích này, M'Drắk có thể xây dựng các định hướng và giải pháp chiến lược dài hạn cho chính sách người có công. Mục tiêu là không chỉ đảm bảo đầy đủ các quyền lợi người có công Đắk Lắk hiện hành mà còn chủ động giải quyết các vấn đề tồn đọng, đồng thời thích ứng với những thay đổi trong tình hình kinh tế - xã hội. Định hướng này cần tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dịch vụ, và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, hướng tới mục tiêu mọi người có công đều có mức sống ngang bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của xã hội.

5.1. Bài học thực tiễn từ Cư Mgar và Krông Pắk trong thực hiện chính sách người có công

Từ kinh nghiệm của huyện Cư Mgar, M'Drắk cần chú trọng hơn vào công tác tuyên truyền pháp luật về người có công để đảm bảo thông tin đến được mọi đối tượng. Cần xây dựng các cơ chế để giải quyết nhanh chóng các hồ sơ người có công Đắk Lắk tồn đọng, đặc biệt là các trường hợp phức tạp liên quan đến người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, thương binh M'Drắkbệnh binh Đắk Lắk. Từ Krông Pắk, bài học về sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong việc hỗ trợ người có công Đắk Lắk là rất quan trọng. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, thanh tra để ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong thực hiện chế độ người có công M'Drắk. Việc rút kinh nghiệm từ những thành công và hạn chế của các địa phương lân cận giúp M'Drắk xây dựng chiến lược thực thi hiệu quả hơn.

5.2. Chiến lược dài hạn cho Chính sách Người có công ở M Drắk Đắk Lắk đến năm 2030 Hướng tới tương lai bền vững

Định hướng chiến lược cho chính sách người có công ở M'Drắk, Đắk Lắk đến năm 2030 cần tập trung vào việc giải quyết triệt để các hồ sơ tồn đọng và nâng cao mức sống cho người có công. Mục tiêu là đảm bảo bản thân và gia đình họ có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của xã hội [Hòa Thị Hằng, 2021]. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Cải cách hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch để giảm phiền hà cho người dân. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích sự vươn lên của các gia đình chính sách. Tăng cường tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, đồng thời khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hỗ trợ người có công Đắk Lắk. Phát triển các chương trình điều dưỡng người có côngưu đãi giáo dục người có công chất lượng cao, đảm bảo an sinh toàn diện cho thế hệ đã cống hiến.

30/09/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện mđrắk tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG 1. Người có công và chính sách người có công 1. Người có công Theo quy định tại Điều 32, Pháp lệnh Người có công với cách mạng năm 2005, thì “Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước"; Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến” [25]. Điều 29, Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định chi tiết: “Người có công giúp đỡ cách mạng là người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước"; người được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công” hoặc bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến có đủ điều kiện xác nhận là người có công giúp đỡ cách mạng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng”.

Theo Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012, Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Người có công với cách mạng: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ 9 download by : skknchat@gmail.com kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng” [26] và theo Điều 3 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, quy định như sau”Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, bao gồm cả Thương binh B được công nhận trước ngày 31/12/1093, người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng [27]. Theo nghĩa rộng: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ là người có thành tích đóng góp hoặc những cống hiện xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật” [18]. Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản của người có công, đó là người có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc.

Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất 10 download by : skknchat@gmail.com sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”. Ở khái niệm này, người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng [18]. Trong luận văn này, người có công với cách mạng là công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác.

đã có cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Khái niệm chính sách người có công Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến. Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện bằng đường lối, nhiệm vụ.

Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Theo Từ điển Tiếng Việt thì chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra [29, tr. Theo tác giả Vũ Cao Đàm: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ 11 download by : skknchat@gmail.com thống xã hội.

Khái niệm hệ thống xã hội được hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp hay một nhà trường [18]. Chính sách nói chung là sách lược, là kế hoạch của Đảng và Nhà nước dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhằm đạt được một mục tiêu nhất định về những vấn đề của xã hội. Trên cơ sở chính sách đề ra, Nhà nước tổ chức thực hiện thông qua các hoạt động cụ thể, thể chế nội dung chính sách thành các quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội. Cũng có quan niệm cho rằng: Chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân.

Trải qua các cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khó để giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế, số lượng người có công với cách mạng ở nước ta rất lớn. Nhân dân ta không bao giờ quên công lao to lớn đó, đồng thời thấm nhuần truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, Đảng và Nhà nước luôn đưa ra những chính sách để phần nào bù đắp về mặt vật chất và tinh thần cho họ, đó là một bộ phận của chính sách xã hội. Chính sách đối với người có công với cách mạng là chính sách vô cùng quan trọng, nó phản ánh sự quan tâm, ý thức xã hội của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ cha, anh đi trước. Vì vậy, nó có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc.

Làm tốt chính sách đối với người có công với cách mạng sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế. Ngược lại, nếu không thực hiện tốt chính sách ưu đãi này sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng dựa trên sự phát triển kinh 12 download by : skknchat@gmail.com tế xã hội nhằm ghi nhận công lao, sự cống hiến, hi sinh của người có công. Chính sách đối với người có công được thể hiện thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật với các chính sách nhằm biết ơn đối với các thế hệ đi trước.

Vì vậy, chính sách người có công là chính sách ưu đãi của nhà nước đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng, nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hi sinh cao cả của họ, và đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình của họ. Nội dung chính sách người có công với cách mạng 1. Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định. - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế và pháp luật đã liệt kê những trường hợp quy định những người là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ