Luận văn thạc sĩ kế toán lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

Luận văn thạc sĩ kế toán phân tích chính sách kế toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cổ phần niêm yết ở Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận

Chính sách kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cách thức ghi nhận và báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Việc lựa chọn chính sách kế toán không chỉ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính mà còn tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị. Theo nghiên cứu của Hoàng Hải Yến, các công ty niêm yết thường sử dụng chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu tài chính nhất định.

1.1. Khái niệm chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận

Chính sách kế toán là tập hợp các nguyên tắc và quy định mà doanh nghiệp áp dụng để ghi nhận và báo cáo các giao dịch tài chính. Điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của nhà quản trị nhằm thay đổi lợi nhuận báo cáo thông qua việc lựa chọn các chính sách kế toán khác nhau.

1.2. Tầm quan trọng của chính sách kế toán trong doanh nghiệp

Chính sách kế toán không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh tài chính của công ty mà còn quyết định đến sự tin tưởng của nhà đầu tư. Việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp giúp doanh nghiệp duy trì sự minh bạch và chính xác trong báo cáo tài chính.

II. Vấn đề và thách thức trong điều chỉnh lợi nhuận tại công ty niêm yết

Việc điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty niêm yết tại Việt Nam đang gặp nhiều thách thức. Nhiều công ty sử dụng các phương pháp kế toán không minh bạch để điều chỉnh lợi nhuận, dẫn đến sự nghi ngờ từ phía nhà đầu tư và các bên liên quan. Theo số liệu từ Vietstock, tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết có điều chỉnh lợi nhuận sau kiểm toán luôn ở mức cao.

2.1. Các vấn đề phổ biến trong điều chỉnh lợi nhuận

Các vấn đề thường gặp bao gồm việc lựa chọn phương pháp khấu hao không hợp lý, ghi nhận doanh thu không đúng thời điểm và trích lập dự phòng không chính xác. Những vấn đề này có thể dẫn đến sự sai lệch lớn trong báo cáo tài chính.

2.2. Tác động của điều chỉnh lợi nhuận đến nhà đầu tư

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể làm giảm lòng tin của nhà đầu tư vào công ty. Khi nhà đầu tư phát hiện ra sự không minh bạch trong báo cáo tài chính, họ có thể rút vốn hoặc không đầu tư vào công ty đó.

III. Phương pháp lựa chọn chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận

Các công ty niêm yết tại Việt Nam thường áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để lựa chọn chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận. Việc lựa chọn này không chỉ dựa trên quy định của chuẩn mực kế toán mà còn phụ thuộc vào mục tiêu tài chính của công ty.

3.1. Phương pháp khấu hao tài sản cố định

Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định có thể ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Các công ty có thể chọn phương pháp khấu hao nhanh để giảm lợi nhuận trong ngắn hạn hoặc phương pháp khấu hao đều để duy trì lợi nhuận ổn định.

3.2. Chính sách ghi nhận doanh thu

Chính sách ghi nhận doanh thu cũng là một yếu tố quan trọng trong việc điều chỉnh lợi nhuận. Việc ghi nhận doanh thu sớm hoặc muộn có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong lợi nhuận báo cáo của công ty.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu của Hoàng Hải Yến đã chỉ ra rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty niêm yết tại Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với các chính sách kế toán được lựa chọn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các công ty thường xuyên điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư và các bên liên quan.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ các công ty niêm yết

Nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ 94 công ty niêm yết và cho thấy rằng có sự điều chỉnh lợi nhuận đáng kể thông qua các chính sách kế toán. Các công ty này thường sử dụng các phương pháp kế toán linh hoạt để tối ưu hóa lợi nhuận.

4.2. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán đến điều chỉnh lợi nhuận

Chất lượng kiểm toán cũng ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các công ty có kiểm toán viên chất lượng cao thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận ít hơn so với các công ty có kiểm toán viên kém.

V. Kết luận và tương lai của chính sách kế toán tại Việt Nam

Chính sách kế toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty niêm yết tại Việt Nam đang trong quá trình phát triển. Cần có các biện pháp để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận không minh bạch.

5.1. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính

Cần thiết phải có các quy định chặt chẽ hơn về chính sách kế toán và kiểm toán để đảm bảo tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Các công ty cũng nên được khuyến khích áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế.

5.2. Tương lai của chính sách kế toán tại Việt Nam

Trong tương lai, chính sách kế toán tại Việt Nam cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu của thị trường và các nhà đầu tư. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong kế toán cũng sẽ giúp nâng cao tính chính xác và minh bạch của báo cáo tài chính.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ kế toán lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài. Quá trình nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp được một số công trình nghiên cứu trên thế giới làm nền tảng lý luận cho đề tài như sau: (1). Healy(1985)[29] đã nghiên cứu trên 94 công ty ở US trong giai đoạn 1930-1980 để nghiên cứu.

Theo cách tiếp cận của Healy, phần không thể điều chỉnh chính là trung bình tổng biến dồn tích của các năm trước 𝑻𝑨𝒊𝒕 ∑𝒕 𝑨𝒊𝒕−𝟏 NDAit = 𝒏 DA it = TA it /A it-1 – NDA it Chú thích: n: số năm trong kỳ ước tính t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận) i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận Theo mô hình của Healy, khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA. NDA chính là giá trị trung bình của TA. Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác. Kế thừa từ mô hình của Healy, Mô hình DeAngelo so sánh tổng biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t với TA thời kỳ t-1 và chênh lệch giữa hai thời kỳ này chính là các biến kế toán được điều chỉnh (DA).

Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA không đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán. Dechow và Sloan (1991)[24] nghiên cứu trên 91 công ty cùng ngành, mô hình loại bỏ giả thuyết về tính ổn định của biến kế toán không thể điều chỉnh NDA theo thời gian. Mô hình này cho rằng phần NDA là chung cho các doanh nghiệp cùng ngành. Từ đó, NDA được xác định thông qua nghiên cứu thực tế hoạt động của ngành.

Mô hình ngành như sau: TAit TA NDAit =β1 +β2medianj Ait−1 Trong đó: β1, β2: ước tính qua OLS trong kỳ ước tính Như vậy sau khi xác định phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA, các nhà nghiên cứu sẽ xác định biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA và tuỳ thuộc vào kết quả tính toán các nhà nghiên cứu có thể đưa ra kết luận: Nếu DAt > 0: Điều chỉnh tăng lợi nhuận DAt <0: Điều chỉnh giảm lợi nhuận DAt =0 : Không điều chỉnh lợi nhuận (4). Từ đó xác định được biến kế toán dồn tích có thể thay đổi được DAt DAt / At-1 = TAt / At-1 - a1/ At-1 - a2ΔREVt / At-1- a3 PPEt / At-1 Với mô hình này, Jones(1991) đưa vào phương trình hồi quy chỉ có hai biến là REV và PPE. Jones cho rằng giá trị REV thể hiện sự biến động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường hoạt động kinh doanh và là khoản mục mang tính khách quan không bị nhà quản lý lợi dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ. Còn giá trị PPE thể hiện nguồn lực nội tại của đơn vị trong việc tạo ra doanh thu, đồng thời khoản mục chi phí khấu hao là một khoản chi phí dồn tích không tự ý lớn ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận trong kỳ.

Tuy nhiên, khi chọn REV làm biến nghiên cứu thì có thể doanh thu thuần cũng bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản [9] này có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp. Và đây chính là hạn chế cần khắc phục của mô hình Jones(1991). Xuất phát từ hạn chế kể trên, nhóm tác giả Dechow, Sloan và Sweeney (1995)[25] đã cải tiến mô hình Jones(1991) bằng cách đưa thêm biến Phải thu khách hàng để hạn chế ảnh hưởng của các khoản doanh thu. Mô hình Jones sau cải tiến được viết lại.

NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (ΔREVt - ΔRECt )/ At-1 + β2 PPEt / At-1 Trong đó, ΔRECt là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng. Kothari, Leone and Wasley(2005)[33] tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and Sweeney (1995),Kothari, Leone and Wasley (2005) đã bổ sung thêm biến về kết quả hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (ROA) vào mô hình gốc của Jones (1991) nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa biến kế toán dồn tích và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) đề xuất như sau: NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (REVt - RECt) / At-1 +β2 PPEt / At-1 + β3 ROAt- Trong đó: ROAt-1 là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1 (7). Nghiên cứu với một mẫu gồm 1166 quan sát của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia từ năm 2010-2012.

Nghiên cứu này phân tích các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia như: Z-Score (khủng hoảng tài chính), FCF (dòng tiền tự do), LEV (đòn bẩy tài chính), ROA (khả năng sinh lời) và Size (quy mô doanh nghiệp). Và kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có biến FCF và ROA là có tác động cùng chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp vì các nhà quản lý sẽ tham gia thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi công ty có tình hình tài chính lành mạnh và có lợi nhuận cao, các yếu tố còn lại như Z-Score, LEV và SIZE không có ý nghĩa trong việc điều chỉnh lợi nhuận. [10] (8) Archambault (2003)[41] trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phân định chất lượng các công ty kiểm toán thành 2 nhóm, nhóm công ty kiểm toán Big 4 và nhóm còn lại là các công ty kiểm toán không phải Big 4. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chất lượng kiểm toán có tác động thuận chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận 1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước (1).Huỳnh Thị Vân (2012)[14] tiến hành nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong phạm vi là 43 công ty cổ phần năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010. Kết quả nghiên cứu đi đến kết luận có 71% tổ chức niêm yết điều chỉnh tăng lợi nhuận, 29% tổ chức niêm yết điều chỉnh giảm lợi nhuận trên sàn HOSE. Với cùng phương pháp nghiên cứu, kết quả đánh giá gần tương tự cho sàn HNX với 73% tổ chức niêm yết trên sàn HNX điều chỉnh tăng lợi nhuận, 27% tổ chức niêm yết trên sàn HNX điều chỉnh giảm lợi nhuận. Phạm Thị Bích Vân(2012)[11] trong nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 60 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán HNX tiến hành năm 2010, dựa trên nền tảng lý thuyết của mô hình Jones cải tiến (1995), nghiên cứu đã đi đến kết luận mô hình Jones thực sự không phù hợp để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn HNX.

Với những lập luận và chứng cứ cụ thể, Phạm Thị Bích Vân đã đề xuất mô hình ứng dụng cho nghiên cứu. Sử dụng công cụ SPSS phiên bản 16.0, kết quả hồi quy cho thấy mức độ phù hợp và có ý nghĩa của các biến tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận gồm (1) Biến chi phí khấu hao; (2) Chi phí dự phòng; (3) Giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp. Bùi Thị Mai Hoài, Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015)[2] trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong các công ty niêm yết trên thị chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008- 2012, với dữ liệu thu thập liên quan đến 211 công ty, tác giả đã xây dựng mô hình ước lượng kết hợp với phần mềm thống kê stata để phân tích, kiểm định và đi đến kết luận có 4 biến ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập với mục đích làm giảm thuế TNDN phải nộp bao gồm (1) Hưởng chính sách ưu đãi [11] thuế; (2)Ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ; (3)Ghi nhận số lượng các khoản dự phòng và (4)Ghi nhận chi phí thuế TNDN hoãn lại. Nhận xét và đưa ra khe hổng Với việc nghiên cứu các lý thuyết nền, tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, tác giả rút ra một số vấn đề sau: Thứ nhất, các mô hình nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên thế giới đều tập trung giải quyết các nhân tố tác động lên biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA), cụ thể như Healy (1985)[29] nghiên cứu tác động của tổng biến dồn tích, phát triển mô hình này, các nghiên cứu về sau như Dechow và Sloan (1991)[24]; Jones(1991)[32]; Dechow, Sloan và Sweeney (1995)[25]; Kothari, Leone and Wasley(2005)[33] cũng chỉ tập trung giải quyết các biến tác động như Tổng doanh thu, nợ phải thu, tài sản cố định hay tỷ suất sinh lời.

Tuy nhiên, việc nhận diện và xem xét mức độ điều chỉnh lợi nhuận theo các nhà nghiên cứu có thể thực hiện thông qua 2 cách. Một là, xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán và hai là tính toán biến NDA. Tổng quan các nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng đã có các nghiên cứu xem xét sự lựa chọn của từng chính sách kế toán tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận như Bartov (1993)[34] đề cập đến chính sách ghi nhận doanh thu; Neill, Pourciau, và Schaefer (1995)[36] hoặc Bishop và Eccher (2000)[22] xem xét tác động khi lựa chọn phương pháp trích khấu hao hay Hughes, Schwartz, và Fellingham (1988)[30] hoặc Neill, Pourciau, và Schaefer (1995)[36] nghiên cứu tác động khi lựa chọn phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho.Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của tác giả, các nghiên cứu này còn rời rạc cho từng lựa chọn chính sách kế toán. Việc nghiên cứu và tổng hợp ảnh hưởng của các lựa chọn chính sách kế toán lên hành vi điều chỉnh lợi nhuận là cần thiết nhằm cung cấp thông tin tổng hợp và đầy đủ Thứ hai, môi trường pháp lý chi phối hoạt động của các công ty niêm yết trên thế giới và Việt Nam khá chênh nhau.

Việc nhận diện và xem xét tác động của từng lựa chọn trong môi trường Việt Nam là cần thiết để đánh giá ý nghĩa và mức độ phù hợp của từng lựa chọn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận trong công ty niêm yết tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các công ty niêm yết tại Việt Nam thực hiện chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định và phương pháp kế toán hiện hành mà còn chỉ ra những tác động của chúng đến quyết định đầu tư và hiệu quả hoạt động của công ty.

Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc minh bạch trong báo cáo tài chính, điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn góp phần nâng cao uy tín của công ty trên thị trường. Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ tác động của thanh khoản đến quyết định đầu tư, nơi phân tích mối liên hệ giữa thanh khoản và quyết định đầu tư tại các công ty niêm yết.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ key factors affecting initial public offering return sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất IPO của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Cuối cùng, để tìm hiểu về các nhân tố tác động đến thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thông tin bất cân xứng. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam.