Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất đối với hộ nghèo 1. Hộ nghèo và vai trò của xóa đói giảm nghèo trong việc phát triển kinh tế-xã hội 1. Hộ nghèo Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo.
Chính vì vậy, thời gian qua Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động xóa đói giảm nghèo cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Trong đó, việc thống nhất quan niệm đói nghèo của Việt Nam cũng được xác định là một vấn đề cần được quan tâm. Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá phong phú. Nó được thay đổi và ngày một gần với quan niệm đói nghèo của thế giới.
Căn cứ vào mức sống thực tế và trình độ phát triển kinh tế xã hội, từ năm 1993 đến nay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã 6 lần công bố tiêu chí cụ thể để đánh giá hộ nghèo. Các tiêu chí này cũng thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 được áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo. - Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn dưới 200.000 đồng/người/tháng.
- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị dưới 260.000 đồng/người/tháng. 8 Tuy nhiên chuẩn nghèo trên chưa đánh giá được đúng thực tế nghèo. Chuẩn nghèo đói của nước ta vẫn còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới với ngưỡng 01USD/người/ngày. Do vậy ngày 30/01/2011 theo đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.
Theo Quyết định này chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được tính như sau: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo (vùng nông thôn có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống; vùng thành thị có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống). Trong hộ nghèo lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đây là các hộ gia đình dân tộc sống ở vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo. Các hộ này còn tồn tại phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên, chủ yếu phát nương làm rẫy, tổng giá trị tài sản bình quân đầu người dưới 01 triệu đồng. Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hộ nghèo tính theo vùng.
Vùng nông thôn, có mức thu nhập từ 401.000 đồng/người/tháng. Vùng thành thị, có mức thu nhập từ 501.000 đồng/người/tháng. Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (hơn 25%), chưa đủ từ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao bồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm, số phòng học chỉ đáp ứng dưới 70% nhu cầu học của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tre, nứa lá, chưa có trạm y tế hoặc có nhưng là nhà tạm, dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50% hộ sử dụng điện sinh hoạt. Trong các xã nghèo có các xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 135/1998/QĐ- TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ.
Xã đặc biệt khó khăn là xã có 5 tiêu chí sau: (i) Vị trí địa lý của xã ở xa trung tâm kinh tế xã hội, xa đường quốc lộ, giao thông đi lại khó khăn. (ii) Môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, còn nhiều tập tục lạc hậu. (iii) Trình độ sản xuất còn lạc hậu, chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, công cụ lao động, sản xuất thô 9 sơ. (vi) Hạ tầng cơ sở chưa phát triển, chưa đủ các công trình thiết yếu như; điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, chợ xã.
(v) Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống thấp. Huyện nghèo là huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Thống kê huyện nghèo là cơ sở để Chính phủ có chính sách giảm nghèo thích hợp nhằm đưa các huyện nghèo có mức thu nhập trong những năm tới ngang bằng mức thu nhập của cả nước. Ngoài các tiêu chí đánh giá nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì còn có cách đánh giá nghèo của Tổng cục thống kê.
Về cơ bản chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của WB, gồm 2 mức: Mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung. Mức nghèo lương thực, thực phẩm là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người/tháng. Ngày 15 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 1614/QĐ-TTg, phê duyệt đề án tổng thể “chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”. Một trong các nội dung của Đề án là xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 theo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách.
Trong tiêu chí về thu nhập, theo quy định, chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập là mức thu nhập đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập. Chuẩn nghèo về thu nhập dùng để xác định quy mô nghèo về thu nhập của quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách). 10 Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập là mức thu nhập mà ở mức đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; loại hố xí/nhà tiêu; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên. Ngày 19 tháng 11 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 59/QĐ-TTg, về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Trong đó, quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Mức chuẩn nghèo là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020.1: Chuẩn nghèo theo thu nhập Chuẩn nghèo (đơn vị tính: Nghìn đồng) Năm Thành thị Nông thôn 1994 102 76 1999 146 112 11 Chuẩn nghèo (đơn vị tính: Nghìn đồng) Năm Thành thị Nông thôn 2004 163 124 2008 370 290 Từ 2010 đến 2015 chuẩn nghèo đã có sự thay đổi theo chuẩn mới của Chính Phủ giai đoạn 2011-2015 2010 500 400 2011 600 480 2012 - 2015 660 530 Từ 2016 đến 2020 chuẩn nghèo đã có sự thay đổi từ đơn chiều sang đa chiều theo chuẩn mới của Chính Phủ giai đoạn 2016 - 2020 2016 - 2020 700 900 (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Tóm lại, đến nay quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam đã ngày càng phản ánh đúng bản chất của đói nghèo. Nếu như nhu cầu hỗ trợ của người nghèo vào những năm 1990 của thế kỷ 20 chỉ giới hạn đến nhu cầu "ăn no, mặc ấm", thì ngày nay, người nghèo còn có nhu cầu được hỗ trợ về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa. Tiếp đến là nhu cầu được trợ giúp để hạn chế rủi ro, quan trọng hơn là được quyền tham gia nhiều hơn và có hiệu quả hơn vào các hoạt động của xã hội.
Điều này cho thấy Việt Nam đang hướng đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững theo đó, việc xây dựng chuẩn nghèo sẽ theo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Đặc điểm của hộ nghèo ở Việt Nam Qua nghiên cứu về tình trạng đói nghèo ở Việt Nam cho thấy, đói nghèo là một hiện tượng khá phổ biến, nó diễn ra ở cả thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi. Tình trạng đó thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau: 12 Thứ nhất, đói nghèo phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh. Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ nghèo, tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh.
Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo.