Tổng quan nghiên cứu

Đào tạo nguồn nhân lực và giải quyết việc làm là trụ cột cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Tại Việt Nam, nhiều chủ trương lớn đã được ban hành nhằm nâng cao chất lượng lao động, tiêu biểu như Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn với mục tiêu hỗ trợ gần 17 triệu người đến năm 2020, cùng Quyết định số 1201/QĐ-TTg đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 40% và tỷ lệ tìm việc qua trung tâm giới thiệu việc làm đạt 30%. Tuy nhiên, làn sóng đô thị hóa nhanh chóng tại thành phố Hà Nội đang tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, dẫn đến mất cân bằng cung cầu lao động và gia tăng áp lực an sinh tại các khu vực chuyển tiếp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại cơ sở, nhận diện khoảng cách giữa chính sách ban hành và nhu cầu thực tế của người dân. Nghiên cứu xác định mục tiêu cụ thể gồm: đánh giá mức độ tham gia của người lao động, làm rõ cách thức tổ chức triển khai của chính quyền địa phương, đo lường mức độ hài lòng của người thụ hưởng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại hai địa bàn mang tính đại diện cao của Hà Nội trong giai đoạn 2015 – 2018: phường Kim Giang (quận Thanh Xuân) với diện tích 22,04 ha, dân số 10.611 người thuộc vùng nội đô và xã Tân Triều (huyện Thanh Trì) mang đặc trưng làng nghề ven đô đang đô thị hóa. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc từ 100 phiếu khảo sát định lượng và 10 cuộc phỏng vấn sâu, đóng góp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách thị trường lao động cấp cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp ba hệ thống lý thuyết xã hội học hiện đại để luận giải hành vi và chính sách:

  • Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Được vận dụng để phân tích động lực của người lao động. Đề tài chỉ ra rằng nhu cầu học nghề và tìm việc làm của người dân đang tập trung chủ yếu ở bậc thứ nhất (nhu cầu sinh lý - kiếm sống cơ bản) và bậc thứ hai (nhu cầu an toàn - bảo đảm công việc ổn định, thu nhập bền vững trước các rủi ro kinh tế).
  • Lý thuyết xã hội học về chính sách công: Dựa trên quan điểm của Francois de Singly kết hợp với nghiên cứu của Pressman và Wildavsky, nhấn mạnh việc chuyển dịch từ mô hình quản trị từ trên xuống (top-down) sang tiếp cận từ dưới lên (bottom-up). Lý thuyết này giải thích quá trình thẩm thấu, tiếp nhận và điều chỉnh chính sách tại cơ sở dựa trên điều kiện văn hóa, kinh tế đặc thù của từng cộng đồng.
  • Lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory): Xem xét người lao động và người sử dụng lao động là những chủ thể hành động duy lý. Người lao động tính toán kỹ lưỡng giữa chi phí cơ hội (thời gian học nghề 3 đến 6 tháng, học phí, công sức) và lợi ích kinh tế kỳ vọng sau đào tạo trong điều kiện nguồn lực khan hiếm.

Khung khái niệm công cụ của luận văn chuẩn hóa 4 thuật ngữ nền tảng: Nghề (lĩnh vực lao động xã hội tạo ra giá trị trao đổi), Đào tạo nghề (quá trình truyền thụ kiến thức và kỹ năng thực hành có tổ chức), Tạo việc làm (cơ chế ba bên kết hợp Nhà nước - Doanh nghiệp - Người lao động) và Giải quyết việc làm (tổng thể biện pháp kinh tế - xã hội mở ra cơ hội việc làm thực tế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kế thừa một phần bộ dữ liệu định lượng từ đề tài nghiên cứu khoa học lý luận chính trị cấp quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 do Giáo sư Tiến sĩ Phạm Quang Minh làm chủ nhiệm khảo sát tại 7 tỉnh thành, kết hợp báo cáo thống kê từ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thanh Xuân và huyện Thanh Trì.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và cỡ mẫu: Khảo sát định lượng được thực hiện với cỡ mẫu N = 100 phiếu, phân bổ đồng đều tại 2 địa bàn: 50 phiếu tại phường Kim Giang và 50 phiếu tại xã Tân Triều. Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo độ tuổi và tình trạng việc làm.
  • Phỏng vấn sâu định tính: Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp ẩn danh (5 cuộc tại Kim Giang, 5 cuộc tại Tân Triều), bao gồm: 4 học viên tham gia học nghề, 4 cán bộ phụ trách lao động - thương binh và xã hội, 2 người lao động không tham gia đào tạo nghề.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát thực địa hoạt động dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Thanh Xuân (140-142 Bùi Xương Trạch) và Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Thanh Trì (đường Phan Trọng Tuệ, Cầu Bươu).
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Sự kết hợp đa phương pháp (triangulation) giúp lượng hóa chính xác tỷ lệ tham gia, đồng thời giải mã sâu sắc rào cản hành chính, tâm lý xã hội và động lực kinh tế đằng sau các con số thống kê trong giai đoạn 2015 – 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2015 – 2018 làm sáng tỏ bốn phát hiện trọng tâm:

  • Thứ nhất, sự phân hóa nhu cầu đào tạo giữa nội thành và làng nghề ven đô: Tại phường Kim Giang, nhóm ngành công nghệ thông tin dành cho người khuyết tật (hợp tác với tổ chức KOICA Hàn Quốc trang bị 25 máy tính) duy trì quy mô ổn định với 2 đến 3 lớp mỗi năm, thu hút 40 học viên/năm. Lớp kỹ thuật nấu ăn thu hút 40 học viên năm 2015 nhưng giảm xuống 22 học viên năm 2016 và 12 học viên năm 2018. Ngược lại, tại xã Tân Triều, nhu cầu học nghề sơ cấp thấp hơn rõ rệt vì địa phương có cụm làng nghề dệt Triều Khúc quy tụ 17 công ty, 30 hộ chuyên với 1.000 lao động; ngành xe tơ sợi có 15 doanh nghiệp với 300 lao động; ngành phế liệu thu hút 180 hộ với 1.000 lao động. Người dân có xu hướng tham gia sản xuất trực tiếp thay vì đi học nghề.
  • Thứ hai, quy mô tuyển sinh các ngành kỹ thuật truyền thống sụt giảm mạnh: Năm 2017, lớp sửa chữa điện lạnh tại Kim Giang chỉ tuyển được 3 học viên, tại Tân Triều là 10 học viên; lớp may và sửa chữa quần áo chỉ đạt từ 8 đến 15 học viên mỗi lớp do mức thu nhập sau đào tạo chưa đáp ứng kỳ vọng.
  • Thứ ba, sự xuất hiện của các ngành nghề dịch vụ mới theo nhu cầu thị trường: Năm 2017 – 2018, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp quận Thanh Xuân mở thêm lớp giúp việc gia đình (8 học viên) và lớp bấm huyệt cho hộ nghèo (27 học viên), phản ánh sự chuyển hướng sang các nhóm nghề dịch vụ chăm sóc tại chỗ.
  • Thứ tư, hiệu quả chính sách hỗ trợ tài chính chưa đi liền với thủ tục thuận tiện: Dù Nghị định 86/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH quy định miễn 100% học phí cho đối tượng chính sách, người khuyết tật và hộ nghèo, quy trình xác nhận hồ sơ qua nhiều cấp khiến tỷ lệ lao động đăng ký tự nguyện còn thấp.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh đối lập rõ nét, có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ so sánh cơ cấu nghề đào tạo giữa hai trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Trong khi đô thị lõi (Kim Giang) phụ thuộc vào hệ sinh thái công nghiệp cũ như Nhà máy Giày Thượng Đình, Cao su - Xà phòng - Thuốc lá và dịch vụ thương mại, khu vực ven đô (Tân Triều) duy trì sinh kế dựa vào làng nghề truyền thống.

Dưới lăng kính của lý thuyết lựa chọn hợp lý, việc lao động Tân Triều ít mặn mà với các lớp đào tạo nghề sơ cấp 3 tháng là hoàn toàn dễ hiểu. Họ ưu tiên kiếm thu nhập ngay tại 180 cơ sở phế liệu hoặc xưởng dệt gia đình thay vì bỏ ra 3 tháng học tập mà chưa chắc có việc làm thu nhập cao hơn. Kết quả này tương đồng với nhận định của Doãn Huy khi đánh giá Đề án 1956: công tác dạy nghề ở nhiều nơi còn thiếu gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế thực tế và nhu cầu của người sử dụng lao động. Việc hoàn thiện chính sách đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả khuyến nghị 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  • Đơn giản hóa và số hóa thủ tục hành chính: Cắt giảm 100% các giấy tờ chứng minh trung gian đối với lao động diện chính sách và hộ nghèo theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP. Ủy ban nhân dân phường Kim Giang và xã Tân Triều cần rút ngắn thời gian tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký học nghề xuống dưới 7 ngày làm việc, bảo đảm người học tiếp cận khóa đào tạo kịp thời.
  • Xây dựng mô hình liên kết đào tạo ba bên gắn với việc làm đầu ra: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thanh Trì chủ trì ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo giữa Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp với 17 công ty dệt may và hơn 180 cơ sở sản xuất tại Tân Triều. Thiết lập chỉ tiêu cam kết tối thiểu 85% học viên sau khi hoàn thành khóa sơ cấp 3 đến 6 tháng được tiếp nhận làm việc với mức lương ổn định.
  • Đa dạng hóa và hiện đại hóa danh mục nghề đào tạo đô thị: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Thanh Xuân cần mở rộng các khóa đào tạo ngắn hạn về thương mại điện tử, kỹ thuật số ứng dụng, quản trị dịch vụ gia đình và chăm sóc sức khỏe. Phấn đấu tăng quy mô tuyển sinh các lớp dịch vụ chất lượng cao lên 25% mỗi năm trong giai đoạn tiếp theo.
  • Nâng cấp mạng lưới sàn giao dịch và dữ liệu việc làm trực tuyến: Căn cứ mục tiêu của Quyết định số 899/QĐ-TTg, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội cần đồng bộ hóa dữ liệu cung - cầu lao động tại cơ sở, kết nối hệ thống phần mềm việc làm đến tận 16 tổ dân phố phường Kim Giang và các thôn xã Tân Triều. Nâng tỷ lệ tư vấn kết nối việc làm thành công qua hệ thống dịch vụ việc làm công lên từ 45% đến 50%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Sở và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có thể sử dụng kết quả khảo sát từ 100 mẫu và phân tích thực tiễn tại hai địa bàn để hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách, tinh gọn quy trình thực hiện Đề án 1956 và Quyết định 899/QĐ-TTg.
  • Các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học: Nghiên cứu sinh ngành Xã hội học, Quản lý công và Kinh tế lao động có thể tham khảo khung lý thuyết kết hợp (Maslow, chính sách công từ dưới lên, lựa chọn hợp lý) cùng phương pháp kết hợp định tính - định lượng làm mẫu hình nghiên cứu trường hợp.
  • Lãnh đạo các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên: Cung cấp cứ liệu thực tế để đổi mới cấu trúc chương trình đào tạo 3 tháng, chuyển đổi từ cung cấp thụ động sang đào tạo linh hoạt bám sát nhu cầu làng nghề và kinh tế đô thị.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức phát triển xã hội: Điển hình như các hiệp hội làng nghề Tân Triều hoặc tổ chức hỗ trợ người khuyết tật (dự án KOICA) có thể khai thác mô hình hợp tác công - tư để tiếp cận nguồn lao động được hỗ trợ kỹ năng bài bản.

Câu hỏi thường gặp

  • Điểm khác biệt căn bản về nhu cầu học nghề giữa phường Kim Giang và xã Tân Triều là gì?
    Tại phường Kim Giang, người dân chuộng các khóa dịch vụ đô thị như công nghệ thông tin (duy trì 40 học viên khuyết tật/năm) và bấm huyệt (27 học viên). Ngược lại, tại xã Tân Triều, mạng lưới làng nghề truyền thống thu hút hơn 2.300 lao động khiến nhu cầu học nghề sơ cấp thấp hơn nhiều, người dân ưu tiên làm nghề tại chỗ.
  • Chính sách miễn 100% học phí đào tạo nghề được áp dụng cho những đối tượng nào?
    Theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP và Quyết định 1956/QĐ-TTg, chính sách miễn 100% học phí áp dụng cho người khuyết tật (như lớp CNTT dự án KOICA), thân nhân người có công với cách mạng, lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo có xác nhận hợp lệ từ Ủy ban nhân dân cấp xã, phường.
  • Vì sao các lớp sửa chữa điện lạnh và may mặc có quy mô tuyển sinh rất thấp trong năm 2017?
    Khảo sát cho thấy lớp điện lạnh tại Kim Giang chỉ có 3 học viên và may mặc có 8 học viên. Nguyên nhân chính là chương trình đào tạo 3 tháng chưa đủ độ sâu tay nghề, trang thiết bị thực hành hạn chế và mức thu nhập khởi điểm chưa đủ sức cạnh tranh với các công việc tự do.
  • Cơ chế tạo việc làm ba bên được luận văn phân tích cụ thể ra sao?
    Cơ chế ba bên gồm: Nhà nước hoàn thiện thể chế pháp lý và cấp kinh phí hỗ trợ đào tạo; Người sử dụng lao động cung cấp thông tin thị trường, máy móc thực hành và cam kết tiếp nhận tuyển dụng; Người lao động chủ động đầu tư thời gian nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.
  • Luận văn sử dụng bộ dữ liệu nào để bảo đảm độ tin cậy khoa học?
    Luận văn kế thừa dữ liệu từ Đề tài nghiên cứu khoa học lý luận chính trị cấp quốc gia 2016 – 2020 do Giáo sư Tiến sĩ Phạm Quang Minh chủ nhiệm tại 7 tỉnh thành, kết hợp khảo sát trực tiếp 100 phiếu điều tra và 10 phỏng vấn sâu tại quận Thanh Xuân và huyện Thanh Trì.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm, kết hợp nhuần nhuyễn ba lý thuyết xã hội học hiện đại.
  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm chân thực về sự phân hóa sinh kế giữa đô thị nội đô (phường Kim Giang) và khu vực làng nghề ven đô (xã Tân Triều).
  • Đánh giá khách quan hiệu quả của Đề án 1956, Quyết định 1201/QĐ-TTg và dự án KOICA hỗ trợ 40 học viên khuyết tật học tin học mỗi năm.
  • Chỉ rõ các rào cản về thủ tục hành chính và sự thiếu kết nối giữa cơ sở dạy nghề với thị trường tuyển dụng thực tế.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, trung tâm đào tạo và hơn 200 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại địa bàn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là luận giải sắc bén sự cần thiết của việc chuyển dịch chính sách đào tạo nghề từ phương thức hành chính mệnh lệnh sang cơ chế thị trường bám sát nhu cầu người học. Lộ trình tiếp theo cần tập trung thí điểm mô hình liên kết đào tạo ba bên trong giai đoạn 2018 – 2020 và nhân rộng ra toàn thành phố Hà Nội đến năm 2025. Bạn đọc và các nhà quản lý hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý lao động và phát triển xã hội.