CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO SÁCH BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Lý luận chung về chính sách dân tộc thiểu số, chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam 1.1 Khái quát chính sách dân tộc tiểu số Trong ba năm qua, Chính phủ, đã ban hành được 41 chính sách, trong đó có 15 chính sách trực tiếp cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 26 chính sách chung gián tiếp cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thống kê cho đến nay có tổng cộng 118 chính sách, trong đó có 54 chính sách trực tiếp và 64 chính sách gián tiếp. Hiện nay hệ thống chính sách dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng đồng bộ, toàn diện, bao phủ hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Nguồn ngân sách và huy động nguồn lực đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng tăng. Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt được kết quả quan trọng. Kết cấu hạ tầng từng bước hoàn thiện. Tỷ lệ hộ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số giảm mỗi năm 4% (hiện còn 28,45%).
Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện hơn trước. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cơ sở đã được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ quản lý, điều hành ở địa phương. Trong thành tựu đạt được, điểm nổi bật là an ninh, quốc phòng vùng dân tộc thiểu số và miền núi được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, khối đại đoàn kết các dân tộc được tăng cường và củng cố. Mặc dù đời sống còn nhiều khó khăn nhưng đồng bào các dân tộc vẫn giữ vững niềm tin với Đảng, Nhà nước.
Một số khái niệm cơ bản: 1. Khái niệm về dân tộc: Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vùng dân tộc thiểu 10 số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt (Điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP) [11] 1. Khái niệm chính sách dân tộc: Chính sách dân tộc là cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, tác động trực tiếp đến các thành phần dân tộc, đến mối quan hệ giữa các dân tộc trong nước và quan hệ với các quốc gia dân tộc trên thế giới.
Xét về mục tiêu, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là khai thác mọi tiềm năng đất nước để phục vụ nhân dân, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đưa các đồng bào dân tộc thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, đói nghèo…. Niệm nghèo và giảm nghèo. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống xét trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo chỉ vật lộn với nhũng mưu sinh hàng ngày về vật chất, biểu hiện trực tiếp ở bửa ăn, họ khó có thể thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc nhu cầu này phải cắt giảm ở mức tối đa, gần như không có.
Nhìn chung, nghèo là một bộ phận dân cư không đủ những điều kiện như: ăn, mặc, ở, giáo dục, quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng…Nghèo thường được phản ánh dưới ba khía cạnh: (1) Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người; (2) Mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú; (3) Không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào qúa trình phát triển cộng đồng. Mặc dù có quan niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng tôi đồng ý với quan điểm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra đây là quan niệm tôi chọn làm đề tài luận văn. Theo đó, * Khái niệm nghèo: Nghèo là tình trạng của một bô phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần nào đó các nhu cầu cơ bản của con người và có 11 mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét về mọi phương diện”.[5] Có thể chia tình trạng thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo đa chiều. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: ăn, mặc, ở, đi lại….
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xem xét; Nghèo đa chiều: Có thể tự hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. * Giảm nghèo là: Cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà nước, của xã hội để triển khai thực hiện các chương tình, dự án nhằm tác động tới các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo với mục đích giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người. Khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững * Chính sách giảm nghèo bền vững: là những quyết định, quy định của Nhà nước nhằm cụ thể hóa các chủ trương thành chương trình dự án cùng với nguồn lực, vật lực cách thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói, giảm nghèo. Quan điểm, mục tiêu của Đảng về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 1.
Quan điểm về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Cho đến nay, vẫn chưa có quan niệm nào nhất quán về giảm nghèo bền vững, hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của một số học giả thường đề cập vấn đề giảm nghèo bền vững với phát triển bền vững. Giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển bền vững; ngược lại, phát triển kinh tế bền vững là cơ sở tạo điều kiện 12 để giảm nghèo bền vững. Về cơ bản, giải quyết nghèo đói nói chung trước hết phải đảm bảo cả hai mặt: Số lượng và chất lượng, số lượng giảm nghèo là số lượng tuyệt đối, hộ nghèo giảm được trong thời gian (thường được xem xét 01 năm, 05 năm), cần phân biệt giữa số hộ giảm với số hộ thoát nghèo hai khái niệm này chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yêu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo…Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề đạt được là đời sống người nghèo nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng, từ đó rút ngắn khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi vào tình cảnh đói nghèo, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Mặc khác, tốc độ giảm nghèo còn chưa đồng đều giữa các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa đủ điều kiện để đột phá giảm nghèo, tỷ lệ nghèo chềnh lệch rất lớn giữa các vùng miền trên cả nước. Nhìn chung, giảm nghèo vền vững các Nhà nhiên cứu chuyên gia kinh tế - xã hội, lao động việc làm đều cho rằng hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để người nghèo có thể vươn lên thoát nghèo để làm dầu chính đáng khả năng của mình trong điều kiện kinh tế - xã hội sẳn có. 13 Theo PGS TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng viện kinh tế Việt Nam, không thể giúp hộ nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện …đây là cách giảm ngèo, xóa nghèo nhanh một cách tức thời, không bền vững. Muốn xóa nghèo, giảm nghèo bền vững, thì nhà nước phải cấp cho hộ nghèo phương thức sản xuất mới phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương, hộ gia đình mà họ không có được, bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa loại trừ các yếu tố gây rủi ro, đặc biệt sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên vùng có khả năng toát nghèo, hộ có khả năng thóat nghèo nhanh và bền vững.
Từ đó có thể lan tỏa đến các vùng lân cận, tác giả luận văn đang nghiên cứu làm thế nào đó để kéo được người nghèo có khả năng tham gia và chủ động tạo ra sản phẩm bằng chính năng lực của mình không trông chờ vào sự hỗ trợ từ cộng đồng xã hội, Bên cạnh đó còn có biện pháp giúp họ ngăn ngừa rủi ro, để tự họ tự khắc phục rủi ro như họ có thể tự chuyển phương thức sản xuất khi phương thức sản xuất củ không phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, xây dựng lại nhà cửa sau khi thiên tai, dịch bệnh. Muốn vậy, người nghèo phải tiếp cận và duy trì với các loại dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, pháp lý. Mục tiêu của giản nghèo bền vững a) Mục tiêu tổng quát: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị quyết Quốc hội đề ra.