CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ, HỖ TRỢ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1. Lý luận cơ bản về giải phóng mặt bằng 1. Khái niệm về giải phóng mặt bằng “Giải phóng mặt bằng” là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên đất để lấy mặt bằng xây dựng công trình (Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam – Bộ giáo dục và đào tạo 1998). Giải phóng mặt bằng là một quá trình thực hiện đa dạng.
Mỗi một dự án được tiến hành trên một vùng nhất định với mỗi một quy mô được thực hiện công tác giải phóng mặt bằng cũng thể hiện khác nhau tùy thuộc vào từng dự án. Công tác giải phóng mặt bằng cũng phải gắn với đặc trưng của từng vùng như: Khu vực nội thành dân số cao, đất đai lại có giá trị đặc biệt thực hiện giải phóng mặt bằng không phải dễ dàng. Điều này khác hẳn với khu vực ven đô hay ngoại thành thì công việc thực hiện có đơn giản hơn. Giải phóng mặt bằng cũng có tính chất khá phức tạp.
Đối với người Việt Nam thì đất đai nhà ở có vai trò đặc biệt quan trọng nên khi giải phóng mặt bằng cũng gặp phải nhiều khó khăn. Ở các khu đô thị lớn do đất có giá trị kinh tế cao phần nào dẫn đến tính trạng dân không muốn di chuyển chỗ ở do bị mất một số các điều kiện thuận lợi khi phải ở nơi khác. Mặt khác do sự hình thành lâu đời của đất đai nó được sở hữu do nhiều chế độ chủ sở hữu việc xác định rõ đặc điểm của từng thửa đất rất khó cho công tác kê khai. Mặt khác nó cũng ảnh hưởng bởi Luật Đất đai và các chính sách được thực hiện trong công tác giải phóng mặt bằng từ trước không được đồng bộ đặc biệt là công tác xác định giá đền bù không thỏa đáng cho người dân trong diện cần giải phóng mặt bằng dẫn tới tình trạng chây lì không chịu di chuyển.
Khi thực hiện di dời điều quan trọng là bố trí đất cho khu vực tái định cư chưa được 10 đảm bảo do các nguyên nhân khác nhau như không có đất, thiếu các điều kiện sinh hoạt. Giải phóng mặt bằng được thực hiện chủ yếu ở các khu vực dân cư có đời sống kinh tế thấp chủ yếu là buôn bán nhỏ do vậy họ sẽ không muốn di chuyển chỗ ở điều đó đồng nghĩa với việc họ không muốn di chuyển chỗ ở. Điều đó đồng nghĩa với việc họ lại phải tìm một công việc khác cho thích hợp với nơi ở mới. Tóm lại, giải phóng mặt bằng là một quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối các công trình và một bộ phận dân cư trú phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên đó.
Công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện từ khi thành lập Hội đống giải phóng mặt bằng Quận, Huyện của dự án cho tới khi giao mặt bằng cho chủ đầu tư. Sự cần thiết phải GPMB 1. GPMB là yêu cầu tất yếu đối với các dự án xây dựng Do quỹ đất có giới hạn và các yêu cầu khách quan của nền kinh tế, nhu cầu về văn hóa, xã hội, chúng ta không xây dựng công trình ở những nơi hoàn toàn vắng vẻ không có người nhất là đối với nhu cầu mở rộng, cải tạo đô thị thì việc xây dựng các công trình trong khu dân cư là điều không tránh khỏi. Công tác GPMB trở thành một yêu cầu tiên quyết đi trước một bước trong các dự án xây dựng.
Mặt bằng để xây dựng là một yếu tố hết sức quan trọng đối với các dự án đầu tư xây dựng. Có mặt bằng thì mới có thể tiến hành đo đạc, thi công, xây lắp công trình được. Trong trường hợp khu đất đã được giải tỏa gần hết mà chỉ vướng một vài hộ gia đình bị thu hồi đất trong diện GPMB mà chưa chịu di chuyển, tháo dỡ thì cũng không thi công được 11 1. Công tác GPMB góp phần thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, nhằm sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả hơn.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là những phương pháp thống nhất quản lý với toàn bộ đất đai, bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm hiệu quả. Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nhà nước nắm được quỹ đất đai đến từng loại đất, thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai, bảo đảm pháp lý cho việc giao đất, có cơ sở để điều chỉnh chính xác đất đai theo hướng sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Đồng thời Nhà nước dự tính được nguồn ngân sách. Muốn thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý cần phải sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất có mục đích sử dụng khác như công nghiệp, dịch vụ thương mại để đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển.
Ở nước ta phần lớn diện tích đất nông nghiệp gần các thành phố lớn hoặc có vị trí thuận tiện gần đường quốc lộ đang dần được thay thế bằng các khu công nghiệp, khu chế xuất… Việc chuyển đổi mục đích này tạo ra giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Vì vậy để có quỹ đất “sạch” phục vụ cho các dự án thì công tác GPMB là yếu tố cần thiết không thể thiếu được trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. GPMB còn cho phép sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai và công cụ điều tiết các hoạt động liên quan đến đất đau của các tổ chức, cá nhân. Công tác giải phóng mặt bằng là cơ sở để đảm bảo thực hiện chiến lược phát triển kinh tế và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đúng hướng.Công tác GPMB là yêu cầu khách quan trong quá trình đổi mới.
Hiện tại và trong thời gian tới, thủ đô Hà Nội cùng với cả nước có quy mô và tốc độ đầu tư, đô thị hóa cao với hàng loạt các dự án mở rộng không gian thành phố, cải tạo nút giao thông, xây dựng các tuyến đường mới, phát triển nhà…Thực hiện tốt công tác GPMB chính là góp phần đảm bảo nhịp độ đô thị, nâng cao năng lực quản lý đô thị trong tình hình mới. 12 Cùng với quá trình đô thị hóa, dân số ngày một tăng, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của dân số đô thị do sự di dân cơ học từ nông thôn ra thành phố, sự chia tách hộ. Do đó cần có nhiều con đường lớn đảm bảo sự an toàn, thoải mái trong giao thông và những công trình phục vụ dân sinh khác. Vì vậy, thực hiện công tác GPMB nhằm tạo quỹ đất để thực hiện công trình đó Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường hệ thống đường xá dành cho giao thông vận tải cần phải mở rộng.
Khi mà đô thị hóa cao thì nhu cầu vận chuyển và đi lại của dân cư ngày càng tăng việc sử chữa nâng cấp các tuyến đường hay làm tuyến đường mới là rất quan trọng, nó sẽ giải quyết trước mắt được nhu cầu vận chuyển đi lại của xã hội. Nhu cầu vui chơi giải trí của đại bộ phận các tầng lớp xã hội đang tăng cao điều đó cần phải mở rộng các khu vui chơi là nhu cầu cấp thiết không chỉ trước mắt mà cả lâu dài như: Xây dựng các trung tâm thể thao, câu lạc bộ văn hóa để phục vụ cho các nhu cầu trên. Để đáp ứng được nhu cầu đang trở thành mối bức xúc mà toàn xã hội đang quan tâm thì việc giải phóng mặt bằng là một yếu tố khách quan. Đây là một biện pháp quan trọng để thúc đẩy việc xây dựng các công trình phục vụ cho phát triển xã hội cũng như quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong cả nước.Quy trình thực hiện GPMB.
Trên cơ sở các Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất, kế hoạch sử dụng đất hàng năm (đã được phê duyệt) của cấp huyện và tiến độ sử dụng đất của Dự án, cơ quan có thẩm quyền (UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện tùy trường hợp) chuẩn bị các thủ tục cần thiết để thu hồi đất. Quy trình thực hiện GPMB bao gồm các bước sau: Bước 1: Thu hồi đất: UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt 13 Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. UBND cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đấthoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất Bước 2: Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất: Sau khi có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền, UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ đền bù, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.
Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án đền bù, hỗ trợ, tái định cư. Bước 3: Phân loại đất, diện tích đất, đo đạc đất: Trong một thời gian dài, suốt từ khi thực hiện Quyết định số 201/CP năm 1980 qua Luật Đất đai 1987 đến Luật Đất đai 1993, việc "Điều tra, khảo sát đất đai" luôn được xếp lên vị trí thứ nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Trong giai đoạn này, nước ta luôn chú ý đến việc điều tra, khảo sát đất đai; sau đó đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, xây dựng bản đồ địa chính, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Bởi vì, chỉ có thông qua việc điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá đất đai mới có thế phân chia toàn bộ quỹ đất đai trong toàn quốc thành các loại, các hạng thích hợp.