Chương 1: Tác giả tập trung nêu về Cơ sở lý luận về dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN, trên cơ sở nêu các khái niệm về Dạy nghề, Chương 2: Tác giả tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách dạy nghề cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chương 3: Hoàn thiện giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG HƢỞNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm đào tạo nghề Để hiểu rõ khái niệm đào tạo nghề, ta tìm hiểu thêm khái niệm về nghề. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề. Có tác giả quan niệm: “Nghề” là một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng”[37]. Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường ĐH KTQD thì khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định [21].
Mặc dù các khái niệm trên được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng như sau: + Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. + Nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội và là phương tiện để sinh sống. + Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị tương đối trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy mà, đào tạo nghề, dạy nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của chính nó.
* Đào tạo nghề: Đào tạo nghề là thuật ngữ nâng cao chất lượng nguồn lao động. Nói tới nâng cao chất lượng nguồn lao động có thuật ngữ đạo tạo nghề. Có nhiều dạng đào tạo khác nhau: Đào tạo cơ bản; đào tạo chuyên sâu; đào 7 tạo chuyên môn; đào tạo nghề; đào tạo ban đầu; đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức; đào tạo từ xa; đào tạo qua trường lớp và tự đào tạo;. Như vậy, đào tạo nghề là một trong các dạng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình: Dạy nghề và học nghề. Dạy nghề được hiểu theo nghĩa chung là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người học nghề. Hiểu theo nghĩa đầy đủ, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thạo nhất định về nghề nghiệp. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015, thì: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.
Như vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn nhân lực”, coi công nhân như là cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động - một yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay. Phân loại đào tạo nghề: Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn bao gồm cả những người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề có chuyên môn khác. * Theo mức độ của truyền bá kiến thức nghề có đào tạo nghề mới, đào tạo lại nghề và bồi dưỡng nâng cao tay nghề.
Đào tạo mới: là hình thức đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có chuyên môn chưa có nghề. Gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa học được nghề. Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động có trình độ, tay nghề cao cho xã hội. Vì vậy, đào tạo mới có thể thực hiện ở các cơ sở đào tạo nghề chuyên nghiệp hoặc 8 truyền nghề trong từng cơ sở sản xuất kinh doanh.
Đào tạo lại nghề: là quá trình đào tạo nghề áp dụng cho những người đã có nghề, có chuyên môn, song vì yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, nghề của họ không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải chuyển sang nghề khác, chuyên môn khác. Đào tạo lại nhằm tạo cho NLĐ có cơ hội học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề. Vì vậy, đào tạo lại nghề thường được đào tạo ở các cơ sở đào tạo chuyên, những nơi có đầy đủ phương tiện đào tạo cập nhật các kiến thức nghề mới. Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là quá trình bồi dưỡng, cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các khả năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng cao kiến thức, kinh nghiệm để người lao động có thể đảm nhận những công việc phức tạp hơn.
Các thuật ngữ trên được sử dụng trường hợp đào tạo nghề cho lao động quản lý và đào tạo nghề cho lao động trực tiếp. * Xét theo thời gian của đào tạo nghề: Đào tạo ngắn hạn: là thời gian đào nghề dưới một năm, chủ yếu với đối tượng phổ cập nghề. Đào tạo dài hạn: là thời gian đào tạo nghề từ một năm trở lên chủ yếu đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Ở các cấp độ của dạy nghề có bằng cao đẳng, trung cấp và chứng chỉ nghề.
Ở các nước, trong đó có Việt Nam hệ thống đào tạo chuyên nghiệp về nghề lập thành một hệ thống từ đại học đến bồi dưỡng nghề. Trong đó đào tạo nghề được xác định từ cao đẳng đến bồi dưỡng nghề. Vì vậy, NLĐ có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình đào tạo nghề đáp ứng với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. - Các hình thức đào tạo nghề.
Tùy theo các tiêu chí phân loại có thể phân thành các hình thức đào tạo nghề như sau: Thứ nhất là theo đối tượng: Đào tạo nghề có thể phân thành; Đào tạo nghề cho lao động quản lý: giám đốc, đốc công, tổ trưởng,. và đào tạo nghề cho lao 9 động gián tiếp: đào tạo nghề cho lao động thất nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động quản lý được hiểu theo nghĩa rộng của đào tạo, khi coi quản lý là một nghề của người quản lý; đào tạo nghề thường gắn trực tiếp với hoạt động đào tạo cho người lao động trực tiếp mang tính kỹ thuật như nghề may, nghề sửa chữa xe máy. Thứ hai là theo phương thức: Đào tạo nghề có thể phân thành; dạy nghề và truyền nghề.
Dạy nghề là truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động hưởng BHTN có một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo sự khéo léo và thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Dạy nghề gắn với các tổ chức chuyên hoạt động dạy nghề. Truyền nghề là truyền bá kỹ năng thực hành để những người lao động hưởng BHTN có một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, và thành thục nhất định về nghề nghiệp.2 Người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp “Thất nghiệp” trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán - Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm). Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.
Tại hội nghị Quốc tế về thống kê lao động lần thứ 13 tại Genevơ năm 1982 về Thống kê dân số hoạt động kinh tế, việc làm, thất nghiệp vừa thiếu việc làm đã thống nhất đưa ra khái niệm về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tuổi quy định trong thời gian điều tra có khả năng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm”. Từ định nghĩa về thất nghiệp, ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp”, đó là: trong độ tuổi lao động; có khả năng lao động đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và được lấy làm cơ sở để vận dụng tại Việt Nam khi đưa ra những khái niệm về người thất nghiệp. Việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về “người thất nghiệp” là rất quan trọng, từ đây sẽ tạo một cơ sở chung giúp cơ quan Nhà nước có những thống kê chính xác về tình trạng thất 10 nghiệp, và đề ra những chính sách khắc phục tình trạng thất nghiệp và những hậu quả của nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia.
Ở Việt Nam từ khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thuật ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (khởi đầu là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, giai đoạn 2010 - 2020.