CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VỀ NƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Người xuất khẩu lao động về nước Tình trạng việc làm của lao động xuất khẩu(LĐXK) hết hạn hợp đồng về nước cũng bao gồm : thất nghiệp, thiếu việc làm, có việc làm và một nhóm không có nhu cầu tìm việc làm. Trước khi đi vào nghiên cứu tình hình cụ thể về tình trạng việc làm của lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng về nước trước tiên ta cần hiểu thế nào là xuất khẩu lao động, người xuất khẩu lao động về nước.
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về xuất khẩu lao động. Theo TS Nguyễn Thị Phương Linh, “XKLĐ là sự di chuyển quốc tế sức lao động có chủ đích, có mục đích và được luật pháp cho phép” [ 26, tr 5 ].TS Nguyễn Tiệp lại đưa ra khái niệm khác: “Xuất, nhập khẩu trên thị trường lao động quốc tế là hình thức di chuyển lao động từ thị trường lao động nước này (hoặc vùng lãnh thổ này) sang một thị trường lao động nước khác (hoặc vùng lãnh thổ khác) để cung cấp dịch vụ lao động cho nước nhập khẩu và giải quyết công ăn việc làm cho lao động của nước xuất khẩu” [ 28, tr 364-365 ]. Theo cách tiếp cận của luận văn thì xuất khẩu lao động được hiểu như sau: Xuất khẩu lao động, thực chất là xuất khẩu hàng hóa sức lao động, đó là sự di chuyển lao động có tổ chức đi làm việc trong thời hạn nhất định ở nước ngoài thông qua các hiệp định về XKLĐ và các thỏa thuận khác giữa các quốc gia nhận và gửi lao động. Luan van 7 Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đồng thời cũng là hoạt động mang tính xã hội cao.
Xuất khẩu lao động thực chất cũng là việc mua và bán một loại hàng hóa đặc biệt vượt ra phạm vi biên giới quốc gia Có 3 cách phân loại xuất khẩu lao động theo các tiêu thức: -Theo cơ cấu người lao động đưa đi xuất khẩu -Theo nước đưa NLĐ đi XKLĐ - Theo hình thức đưa NLĐ đi XKLĐ Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi: Lao động có nghề: Là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa. Lao động không có nghề: Là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng. Căn cứ vào nước đưa NLĐ đi xuất khẩu lao động: Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nước đang phát triển để thu ngoại tệ.
Trường hợp này không phải là chảy máu chất xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm một phần thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kỹ thuật bậc cao ở nước ngoài. để thu ngoại tệ. Luan van 8 Nhóm các nước đang phát triển: Có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc bậc thấp, LĐ “dư thừa”, trình độ tay nghề kỹ thuật thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền, tăng thêm ngoại tệ, giảm sức ép về việc làm trong nước, tăng thêm của cải vật chất cho xã hội, giảm chi tiêu trong nước, tăng thêm tri thức kinh nghiệm làm ăn kinh tế, giảm tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra, tạo một lượng LĐ tích cực, học tập được phong cách LĐ mới do tổ chức ở NN trang bị.
Mở rộng quan hệ hiểu biết lẫn nhau, giới thiệu con người và đất nước mình cho các nước… Bên cạnh tác động tốt, việc đưa NLĐ đi làm việc ở NN cũng dễ dàng gánh phải các hậu quả xấu ( không mong muốn) như: Giảm bớt bộ phận LĐ trẻ khoẻ, có trình độ văn hoá chuyên môn tương đối cao; gây biến động về sức mua trong nước, có thể mất bí mật kinh tế do NLĐ mang đi bán, dễ để lại tính xấu ở nước nhận LĐ nếu LĐ sang đó có hành động sai trái như vi phạm luật pháp, phong tục tập quán… NLĐ còn dễ dàng mang theo những nếp sống không phù hợp, các bệnh xã hội từ NN về sau thời gian đi làm việc ở NN. Căn cứ theo hình thức đưa NLĐ đi XKLĐ: Đây là cách phân loại chủ yếu dành cho các nhà quản lý để biết được hiệu quả XKLĐ, tuy nhiên nó cũng có giá trị để nhận biết về trình độ lao động sau XKLĐ, ví dụ hình thức tu nghiệp sinh thì cho thấy đây là đội ngũ lao động có kỹ năng chuyên sâu còn XKLĐ theo HĐ ký kết bình thường có thể chỉ là lao động giản đơn, giúp việc gia đình. Khái niệm Người xuất khẩu lao động về nước Người xuất khẩu lao động về nước là những người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài đã hoàn thành thời gian lao động ở nước ngoài ghi trên hợp đồng lao động. Người xuất khẩu lao động về nước là một bộ phận của lực lượng lao động nói chung, theo các cuộc điều tra nghiên cứu đã cho thấy lao động đi Luan van 9 xuất khẩu chủ yếu trong độ tuổi từ 18-25 chiếm tỷ lệ cao( khoảng 70-80%) do vậy người xuất khẩu lao động về nước chủ yếu trong độ tuổi từ 20-30 tuổi( chiếm khoảng trên 60%).
Như vậy người xuất khẩu lao động về nước là lực lượng lao động có đầy đủ năng lực, thể chất và tinh thần cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời mỗi năm lực lượng người xuất khẩu lao động về nước tương đối lớn, đây là một lực lượng lao động có chất lượng khá rất lãng phí nếu như không có kế hoạch sử dụng sao cho có hiệu quả. Tạo việc làm cho người xuất khẩu lao động về nước là góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước. Người xuất khẩu lao động về nước được coi là lao động có trình độ tay nghề nhất định, Việc sử dụng lao động này không chỉ đem lại năng suất lao động cao mà còn tiết kiệm được chi phí đào tạo.
Trước khi đi xuất khẩu lao động, lao động được qua các lớp đào tạo nghề, ngoại ngữ nhất định, đồng thời trong thời gian lao động ở nước ngoài( đa phần là các nước có nền sản xuất tiên tiến hiện đại) có điều kiện để học tập, tiếp cận với những kỹ thuật, công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại. Do vậy nếu không có biện pháp và kế hoạch sử dụng nguồn lao động này sẽ gây ra lãng phí nguồn lực đồng thời làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Người xuất khẩu lao động về nước chủ yếu là lao động chính trong gia đình. Theo số liệu điều tra của các cuộc điều tra cho thấy trung bình mỗi lao động xuất khẩu về nước trung bình phải nuôi 2-3 người phụ thuộc.
Như vậy nếu người xuất khẩu lao động về nước không có việc làm, đời sống của nhân dân gặp khó khăn, chất lượng y tế, giáo dục không được quan tâm, gây ảnh hưởng đến chất lượng lao động trong tương lai tức là ảnh hưởng đến quá trình sản xuất đầu vào trong tương lai, gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội. Do đó mà công tác tạo việc làm cho người xuất khẩu lao động về nước không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là nhiệm vụ mang tính chiến lược. Luan van 10 Người xuất khẩu lao động về nước có được tác phong làm việc công nghiệp, có vốn kiến thức và trình độ ngoại ngữ nhất định. Khi về nước họ có thể tự bỏ vốn ra mở các cơ sở sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ không những góp phần tạo việc làm cho bản thân và gia đình mà còn góp phần tạo việc làm cho một lực lượng lao động địa phương nhất định.
Do vậy chính quyền các cấp, các ban ngành từ trung ương đến địa phương cần có những chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho người xuất khẩu lao động về nước sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tốt nhất để góp phần phát triển kinh tế gia đình, đồng thời góp phần phát triển kinh tế đất nước, ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội. Đóng góp của người lao động sau khi kết thúc hợp đồng xuất khẩu lao động vào nền kinh tế Một là, bổ sung vào nguồn lao động có tay nghề, kỹ thuật cho nền kinh tế Người lao động trước khi được đưa đi làm việc ở nước ngoài đã phải trải qua khâu xét tuyển, học tiếng, kiểm tra tay nghề và đào tạo những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của đối tác nước ngoài. Đặc biệt với đối tượng lao động xuất khẩu thông qua hình thức tu nghiệp sinh, thực tập nâng cao tay nghề thì điều kiện tuyển chọn về trình độ chuyên môn kỹ thuật để đi xuất khẩu lao động là rất cao. Khi làm việc ở nước ngoài những lao động này thông qua quá trình giao lưu, học tập kinh nghiệm, làm việc và sinh hoạt tại nước bản địa đã tự đào tạo mình thêm vốn kiến thức về ngoại ngữ, được tiếp xúc với máy móc, công nghệ hiện đại, từ đó người lao động có thể tích lũy thêm kiến thức về kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu, rèn luyện, nâng cao tay nghề, thông thạo các thao tác, xử lý tình huống trong vận hành máy móc đồng thời có thể giao tiếp trong quá trình sinh hoạt và làm việc.
Và khi trở về nước, trong bối cảnh nguồn nhân lực có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật đang là cơn khát cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu Luan van 11 tư nước ngoài, thì những người lao động sau khi kết thúc HĐ XKLĐ được đánh giá là thích hợp với yêu cầu của nhà đầu tư, họ sẽ bổ sung vào nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật. Đồng thời người lao động sau XKLĐ làm tăng khả năng cung cấp nguồn nhân lực tham gia XKLĐ, mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước .