Luận văn: Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện tỉnh An Giang

Luận văn phân tích chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang

Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba yếu tố cốt lõi cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững, bên cạnh công nghệ và hạ tầng. Trong đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là trung tâm của sự phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, mọi việc thành bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Kế thừa quan điểm này, Đảng và Nhà nước luôn xem việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, đối với ngành Thanh tra, Người chỉ rõ: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”. Do đó, việc thực hiện chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang đóng vai trò chiến lược, nhằm xây dựng đội ngũ công chức có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và hội nhập. Tỉnh An Giang, nhận thức rõ tầm quan trọng này, đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm nâng cao năng lực cán bộ thanh tra, khuyến khích học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Mục tiêu là xây dựng một đội ngũ thanh tra viên không chỉ vững vàng về chính trị, am hiểu pháp luật mà còn tinh thông nghiệp vụ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra và giữ vững kỷ cương phép nước tại địa phương.

1.1. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực thanh tra cấp huyện

Nhân lực ngành Thanh tra là lực lượng nòng cốt thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Vai trò của họ thể hiện rõ nét qua các hoạt động chuyên môn. Trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra viên xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, từ đó phát hiện và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích nhà nước và quyền lợi hợp pháp của công dân. Trong công tác tiếp công dân, họ là cầu nối giữa chính quyền và người dân, lắng nghe và hướng dẫn giải quyết các kiến nghị. Đặc biệt, trong công tác phòng chống tham nhũng cấp huyện, lực lượng thanh tra có vai trò then chốt trong việc phát hiện, xác minh và kiến nghị xử lý các hành vi tiêu cực. Do đó, việc phát triển nguồn nhân lực thanh tra có năng lực và phẩm chất là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

1.2. Nền tảng pháp lý cho kế hoạch đào tạo công chức An Giang

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực thanh tra tại An Giang được xây dựng trên một nền tảng pháp lý vững chắc từ Trung ương đến địa phương. Các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của Chính phủ như Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và Quyết định số 163/QĐ-TTg phê duyệt đề án đào tạo giai đoạn 2016-2025 đã định hướng chung cho hoạt động này. Tại An Giang, tỉnh đã cụ thể hóa các chủ trương này thông qua việc ban hành các văn bản riêng, phù hợp với thực tiễn. Điển hình là Nghị quyết số 02/2014/NQ-HĐND và Nghị quyết số 14/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh quy định về chế độ trợ cấp và mức chi cho đào tạo. UBND tỉnh cũng ban hành các kế hoạch đào tạo công chức hằng năm và giai đoạn, như Kế hoạch số 718/KH-UBND giai đoạn 2016-2020. Những văn bản này tạo thành một hệ thống thể chế đồng bộ, là cơ sở để triển khai đề án phát triển nhân lực tỉnh An Giang một cách bài bản và hiệu quả.

II. Các thách thức trong đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực thi chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang vẫn đối mặt với nhiều tồn tại và thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đồng đều. Trình độ và năng lực của một bộ phận công chức chưa tương xứng với văn bằng được đào tạo. Các công chức mới có chuyên môn nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng xử lý tình huống trong lĩnh vực thanh tra. Trong khi đó, tỉnh lại thiếu hụt nhân lực có chuyên môn cao và kinh nghiệm để kế thừa do tình trạng luân chuyển công tác thường xuyên. Ngoài ra, công tác triển khai chính sách còn nhiều bất cập. Việc quy hoạch, lựa chọn cán bộ đi bồi dưỡng đôi khi chưa hợp lý, thiếu tính khoa học. Một bộ phận công chức vẫn còn tâm lý e ngại tham gia học tập, hoặc tham gia với tư tưởng đối phó, chỉ cốt để có bằng cấp, chứng chỉ. Hệ thống chính sách về đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự đồng bộ cũng là một rào cản, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu và hiệu quả chung của công tác phát triển nguồn nhân lực thanh tra.

2.1. Thực trạng chất lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ còn hạn chế

Thực trạng cho thấy chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra cấp huyện tại An Giang còn nhiều điểm cần cải thiện. Mặc dù phần lớn đã đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nhưng năng lực thực thi công vụ không đồng đều. Một số công chức có trình độ đại học, sau đại học nhưng kỹ năng giải quyết các vụ việc phức tạp, đặc biệt là trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn hạn chế. Tỷ lệ nhân lực có trình độ thạc sĩ còn thấp (5,48% theo khảo sát), chưa đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao. Cơ cấu độ tuổi tuy khá hợp lý nhưng vẫn tồn tại khoảng trống kinh nghiệm giữa các thế hệ. Lực lượng trẻ dồi dào nhưng cần thời gian tích lũy, trong khi đội ngũ giàu kinh nghiệm lại không nhiều. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra một cách thực chất và hiệu quả hơn.

2.2. Bất cập trong công tác quy hoạch đội ngũ thanh tra viên

Công tác quy hoạch đội ngũ thanh tra viên là khâu quan trọng nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Việc lựa chọn, cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo đôi khi chưa bám sát vào quy hoạch dài hạn và nhu cầu thực tế của từng vị trí việc làm. Theo luận văn của tác giả Trương Thị Tuyết Mai, công tác này “chưa hợp lý, thiếu khoa học, cơ cấu đội ngũ nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu lâu dài”. Điều này dẫn đến tình trạng đào tạo dàn trải, chưa tập trung vào các kỹ năng, kiến thức cốt lõi mà một thanh tra viên cần có để đáp ứng tiêu chuẩn chức danh thanh tra viên. Việc đào tạo chưa gắn liền với bố trí và sử dụng cán bộ sau đào tạo cũng làm giảm động lực học tập và lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

III. Phương pháp xây dựng chính sách đào tạo nhân lực thanh tra An Giang

Để giải quyết các thách thức, tỉnh An Giang đã triển khai một hệ thống các phương pháp và giải pháp đồng bộ trong việc xây dựng và thực thi chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang. Cách tiếp cận của tỉnh là vừa bám sát các chủ trương của Trung ương, vừa vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế của địa phương. Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã chủ động xây dựng một khung thể chế rõ ràng, với các mục tiêu cụ thể nhằm nâng cao năng lực cán bộ thanh tra trên mọi phương diện. Các chính sách không chỉ tập trung vào việc trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà còn chú trọng đến việc bồi dưỡng lý luận chính trị, đạo đức công vụ và các kỹ năng mềm cần thiết. Nội dung và hình thức đào tạo được thiết kế đa dạng, từ các lớp đào tạo dài hạn sau đại học đến các khóa bồi dưỡng ngắn hạn chuyên sâu, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các nhóm đối tượng khác nhau, góp phần chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngành thanh tra một cách toàn diện.

3.1. Xây dựng thể chế và mục tiêu nâng cao năng lực cán bộ thanh tra

Nền tảng của chính sách đào tạo tại An Giang là một hệ thống thể chế được xây dựng bài bản. Tỉnh đã ban hành hàng loạt văn bản chỉ đạo, như các Kế hoạch của Tỉnh ủy và Quyết định của UBND tỉnh về đào tạo, bồi dưỡng công chức hằng năm. Mục tiêu trọng tâm của các văn bản này là “xây dựng được đội ngũ CBCC Thanh tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ cao, có đạo đức nghề nghiệp, phẩm chất, năng lực tốt”. Chính sách hướng đến việc nâng cao năng lực cán bộ thanh tra một cách thực chất, đảm bảo sau đào tạo, công chức có thể vận dụng kiến thức vào thực tiễn, cải thiện hiệu quả công tác thanh tra, đặc biệt trong bối cảnh cải cách hành chính An Giang đang được đẩy mạnh.

3.2. Nội dung và hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đa dạng

Nội dung đào tạo được quy định rõ ràng, bao quát nhiều lĩnh vực. Theo Nghị định 101/2017/NĐ-CP, nội dung bao gồm lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức công vụ, ngoại ngữ, tin học. Đối với ngành thanh tra, nội dung đặc biệt chú trọng vào các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên và thanh tra viên chính. Về hình thức, An Giang áp dụng linh hoạt nhiều mô hình: đào tạo tập trung, đào tạo bán tập trung (vừa học vừa làm), và các khóa bồi dưỡng ngắn ngày. Sự đa dạng này giúp công chức có thể lựa chọn hình thức phù hợp, vừa đảm bảo việc học tập nâng cao trình độ, vừa hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn tại cơ quan, đơn vị. Đây là yếu tố quan trọng để thực hiện thành công kế hoạch đào tạo công chức của tỉnh.

IV. Hướng dẫn quy trình thực thi chính sách đào tạo thanh tra cấp huyện

Quy trình thực thi chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang được tổ chức một cách khoa học với sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan. Quá trình này không chỉ dừng lại ở việc ban hành kế hoạch mà bao gồm một chuỗi các hoạt động từ phổ biến, tuyên truyền chính sách đến tổ chức thực hiện, theo dõi, đôn đốc và cuối cùng là tổng kết, đánh giá. Sở Nội vụ giữ vai trò chủ trì, tham mưu cho UBND tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể và điều phối chung. Thanh tra tỉnh chịu trách nhiệm về mảng đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. UBND các huyện, thị xã, thành phố là đơn vị trực tiếp triển khai và cử cán bộ tham gia. Sự phối hợp nhịp nhàng này nhằm đảm bảo chính sách được đưa vào cuộc sống một cách hiệu quả, đúng đối tượng và mục tiêu đề ra, từ đó từng bước phát triển nguồn nhân lực thanh tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

4.1. Phân công phối hợp giữa các cơ quan trong triển khai kế hoạch

Sự thành công của chính sách phụ thuộc lớn vào cơ chế phân công, phối hợp. Tại An Giang, vai trò của các đơn vị được xác định rõ: Sở Nội vụ tổng hợp nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tham mưu cử cán bộ đi học. Thanh tra tỉnh phối hợp với Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành. UBND cấp huyện rà soát, lập danh sách cán bộ theo quy hoạch và nhu cầu thực tế. Sở Tài chính đảm bảo nguồn kinh phí. Phòng Nội vụ và Ban Tổ chức Huyện ủy phối hợp tham mưu cử cán bộ học lý luận chính trị. Cơ chế phối hợp đa ngành này giúp kế hoạch đào tạo công chức được triển khai đồng bộ, tránh chồng chéo và tối ưu hóa nguồn lực.

4.2. Giám sát đôn đốc và đánh giá hiệu quả công tác thanh tra

Để đảm bảo chính sách đi vào thực chất, công tác theo dõi, đôn đốc và đánh giá được chú trọng. Sở Nội vụ được giao nhiệm vụ chủ trì kiểm tra việc thực hiện chính sách tại các đơn vị. Hoạt động này giúp phát hiện kịp thời những khó khăn, vướng mắc để đề xuất các giải pháp điều chỉnh phù hợp. Sau mỗi giai đoạn, tỉnh đều tổ chức tổng kết, đánh giá để rút kinh nghiệm. Việc HĐND và UBND tỉnh ban hành các nghị quyết, quyết định sửa đổi, bổ sung chế độ trợ cấp đào tạo là minh chứng cho quá trình này. Việc giám sát chặt chẽ giúp chính sách liên tục được cải tiến, hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả công tác thanh tra và chất lượng phục vụ nhân dân.

V. Đánh giá hiệu quả chính sách đào tạo nhân lực thanh tra tại An Giang

Giai đoạn 2015-2020, việc thực hiện chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Chất lượng đội ngũ công chức từng bước được nâng cao, thể hiện qua sự gia tăng về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị. Nhiều công chức đã được cử đi đào tạo sau đại học, tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên, thanh tra viên chính và các lớp quản lý nhà nước. Theo số liệu thống kê, 91,78% công chức thanh tra cấp huyện có trình độ đại học trở lên, cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn chức danh thanh tra viên. Các chương trình đào tạo đã có sự đổi mới về nội dung và phương pháp, tăng cường tính thực tiễn và tương tác. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng cho thấy một số công chức vẫn đánh giá thời gian đào tạo chưa thực sự phù hợp. Nhìn chung, chính sách đã tạo ra chuyển biến tích cực, góp phần chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành Thanh tra tỉnh.

5.1. Kết quả thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2015 2020

Số liệu cụ thể cho thấy sự thành công của chính sách. Trong giai đoạn 2015-2020, đã có 07 công chức được đào tạo thạc sĩ, 05 người tham gia lớp cao cấp lý luận chính trị, 24 người được bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên chính và 23 người tham gia lớp nghiệp vụ thanh tra viên. Về quản lý nhà nước, 20 người đã hoàn thành chương trình chuyên viên chính. Những con số này phản ánh nỗ lực của tỉnh trong việc nâng cao năng lực cán bộ thanh tra. Đội ngũ công chức sau khi được đào tạo đã vận dụng kiến thức mới vào công việc, góp phần cải thiện chất lượng tham mưu và thực thi công vụ, đặc biệt trong các lĩnh vực phức tạp như công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

5.2. Phân tích số liệu khảo sát về trình độ và kinh nghiệm công tác

Kết quả khảo sát 73 công chức thanh tra cấp huyện cung cấp một bức tranh chi tiết về chất lượng đội ngũ cán bộ. Tỷ lệ có trình độ đại học và thạc sĩ chiếm tổng cộng 97,26%, cho thấy mặt bằng học vấn cao. Về kinh nghiệm, nhóm có thâm niên từ 5 đến 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (42,47%), đây là lực lượng nòng cốt, có sự kết hợp giữa sức trẻ và kinh nghiệm. Về trình độ lý luận chính trị, 52,05% có trình độ trung cấp và 28,77% có trình độ cao cấp. Các số liệu này khẳng định chính sách đào tạo đã đi đúng hướng trong việc chuẩn hóa đội ngũ, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn chức danh thanh tra viên theo quy định.

VI. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực thanh tra

Để chính sách đào tạo nhân lực thanh tra cấp huyện An Giang phát huy hiệu quả cao hơn trong tương lai, cần có các giải pháp mang tính đột phá và đồng bộ. Trọng tâm là phải đổi mới tư duy và cách thức tổ chức, từ khâu quy hoạch đến đánh giá sau đào tạo. Công tác xác định nhu cầu đào tạo cần phải xuất phát từ yêu cầu của vị trí việc làm và năng lực thực tế của công chức, thay vì chạy theo bằng cấp. Cần tăng cường đầu tư nguồn lực cho các cơ sở đào tạo, đồng thời cải tiến mạnh mẽ nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn. Việc xây dựng một cơ chế khuyến khích, động viên và ràng buộc trách nhiệm rõ ràng sẽ tạo động lực để công chức tự giác học tập, nâng cao trình độ. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một đội ngũ thanh tra thực sự chuyên nghiệp, liêm chính, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính An Giang và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra một cách bền vững.

6.1. Đổi mới quy hoạch và xác định nhu cầu đào tạo sát thực tế

Một trong những giải pháp then chốt là phải đổi mới công tác quy hoạch đội ngũ thanh tra viên. Quy hoạch cần được xây dựng một cách khoa học, có tầm nhìn dài hạn, gắn với chiến lược phát triển của ngành và địa phương. Việc xác định nhu cầu đào tạo phải được thực hiện thường xuyên, dựa trên đánh giá năng lực cá nhân và yêu cầu công việc cụ thể. Thay vì cử đi học một cách đại trà, cần lựa chọn đúng người, đúng nội dung cần bồi dưỡng. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm nguồn lực mà còn đảm bảo việc đào tạo mang lại hiệu quả thiết thực, trực tiếp cải thiện chất lượng đội ngũ cán bộ.

6.2. Cải tiến phương pháp và tăng cường nguồn lực bồi dưỡng nghiệp vụ

Chất lượng đào tạo phụ thuộc lớn vào phương pháp giảng dạy và nguồn lực đầu tư. Cần chuyển đổi từ phương pháp truyền thụ một chiều sang các phương pháp tích cực, tăng cường thảo luận, xử lý tình huống thực tế và trao đổi kinh nghiệm. Việc bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra phải gắn chặt với thực tiễn công tác tại địa phương. Đồng thời, cần đảm bảo nguồn ngân sách đủ mạnh, đầu tư cho cơ sở vật chất, tài liệu và xây dựng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chất lượng cao. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập cũng là một hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả, thực hiện thành công mục tiêu phát triển nguồn nhân lực thanh tra trong giai đoạn mới.

04/10/2025
Thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng nhân lực thanh tra cấp huyện ở tỉnh an giang luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nhân lực ngành Thanh tra 1. Khái niệm cán bộ, công chức Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [29, tr. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [31, tr.

Theo khái niệm trên, cán bộ là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh và cán bộ làm việc theo nhiệm kỳ, có nghĩa là việc bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh trong khoảng thời gian nhất định. Đối với công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan, có nghĩa là người đó phải qua thi tuyển, tuyển dụng công chức, bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh, có quyết định tuyển dụng và quyết định bổ nhiệm vào ngạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: chuyên viên, Thanh tra viên… 10 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nhân lực nói chung và phát triển nhân lực ngành Thanh tra nói riêng. Đây là nhiệm vụ thường xuyên có ý nghĩa quan trọng góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng công tác và hiệu quả làm việc của CBCC [3, tr.

Theo từ điển Tiếng Việt “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm” [59, tr. Đào tạo CBCC là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho CBCC phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc được giao có chất lượng, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC thực hiện [16, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2000, Tập 1: Đào tạo là “quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận được một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [17, tr. Trong khi đó, theo Phạm Thị Hiền Thảo (2016) cho rằng đào tạo là một hoạt động có mục đích, có tổ chức được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng phù hợp nhất định; bên cạnh đó bồi dưỡng được hiểu là quá trình gia tăng, bổ sung, cập nhật thêm những kiến thức mới, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất nghề nghiệp nhằm giúp người học hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Đào tạo bồi dưỡng CBCC là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao [40, tr. 11 Đào tạo, bồi dưỡng CBCC Thanh tra là hoạt động nhằm tổ chức truyền tải kiến thức, kỹ năng đến với CBCC Thanh tra góp phần xây dựng, phát triển đội ngũ, nâng cao năng lực của đội ngũ CBCCC Thanh tra. Thông qua công tác ĐTBD CBCC Thanh tra được nâng cao kiến thức về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao được hiệu quả [37, tr. Như vậy, có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể đảm nhận được một công việc nhất định; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ giúp CBCC thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Tuy đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm độc lập, nhưng đều nhằm mục đích chung là làm cho người được ĐTBD có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn. Thực tế có một số hoạt động ĐTBD rất khó phân chia ranh giới một cách rạch ròi. Để thực hiện nhiệm vụ, mỗi CBCC Thanh tra cần phải được trang bị kiến thức cơ bản về trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ và thường xuyên được cập nhật thông tin liên quan đến hoạt động của ngành, lĩnh vực mà mình công tác. Để đáp ứng yêu cầu đó, công tác ĐTBD được sử dụng như một cầu nối để thực hiện có kế hoạch quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức, kỹ năng đến CBCC thanh tra.

Từ phân tích trên, trong khuôn khổ đề tài học viên sử dụng thống nhất khái niệm ĐTBD để chỉ một công chức tham gia một khóa học để nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong thực thi công vụ, nhiệm vụ không kể thời gian dài hay ngắn. Khái niệm về chính sách công Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, sử dụng quyền lực do nhân dân trao quyền nhằm quản lý xã hội, phục vụ sự phát triển chung của đất nước. Nhà nước sử dụng nhiều công cụ nhằm thực hiện chức năng của mình trong đó một công cụ quan trọng chính là chính sách. Cho đến nay, đã có nhiều 12 cách tiếp cận khác nhau về chính sách công như: B.

Guy Peters (năm 1990) định nghĩa: Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân. Quan niệm này của B. Guy Peters đã bổ sung thêm một khía cạnh quan trọng của chính sách công, đó là tác động của chính sách công đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể [49]. Có thể hiểu, chính sách công là chính sách của Nhà nước, của Chính phủ ban hành, là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước [25, tr.

Trong khi đó, tác giả Bùi Thị Cần cho rằng chính sách công là tập hợp những quyết định có liên quan với nhau, do Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đặt ra theo định hướng chính trị của Nhà nước; đồng thời để cụ thể hóa Nhà nước cần tiến hành thực thi chính sách công là quá trình Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm thực hiện mục tiêu chính sách công [5, tr. Việc thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình hoặc dự án và thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công [18, tr.335]; thực thi chính sách công còn được hiểu là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra [27, tr.123], hay là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm thực hiện hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả [19, tr. Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của Nhà nước nhằm vạch ra những định hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý đối với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự 13 phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền [58, tr.

Bên cạnh đó, theo Phạm Thị Thoan cho rằng chính sách ĐTBD CBCC là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể về ĐTBD CBCC góp phần xây dựng đội ngũ CBCC có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước [20, tr. Nhìn chung, pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng, cụ thể trong vấn đề ĐTBD CBCC tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động diễn ra trong khuôn khổ quản lý của Nhà nước góp phần quan trọng trong thực thi công vụ của công chức. Trong nghiên cứu này, học viên tiếp cận theo quan điểm của tác giả Phạm Thị Thoan để phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC Thanh tra cấp huyện ở tỉnh An Giang. Khái niệm về nhân lực ngành Thanh tra Để hiểu nghĩa chung nhất về khái niệm nhân lực ngành Thanh tra, trước tiên cần hiểu rõ khái niệm về thanh tra.

Theo Luật Thanh tra năm 2010 quy định “Thanh tra nhà nước” là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Thanh tra tỉnh), Thanh tra Sở, Thanh tra huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (Thanh tra huyện). Cơ cấu tổ chức cơ bản của Thanh tra gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên [30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ