Tổng quan về luận án
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), giáo dục đại học (GDĐH) đóng vai trò then chốt trong việc tạo lập nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống GDĐH Việt Nam đang đối mặt với nghịch lý cơ cấu nghiêm trọng: quy mô đào tạo mở rộng nhanh nhưng chất lượng và cơ cấu ngành nghề chưa tương thích với chuyển dịch kinh tế. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2012) chỉ rõ: "Giáo dục đại học Việt Nam chưa cung cấp được những kỹ năng và thực hiện nghiên cứu cần thiết để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và đổi mới". Bên cạnh đó, Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhận định: "Giáo dục đào tạo nước ta nói chung và giáo dục đại học nói riêng vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu để làm động lực quan trọng nhất cho phát triển. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội".
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội (NCXH) từ góc độ Quản lý giáo dục (Phan Minh Hiền, 2011; Ngô Thị Minh, 2013) hoặc Quản lý hành chính công (Đặng Thị Minh, 2014; Đoàn Văn Dũng, 2015), vốn xem trường đại học (TĐH) là đơn vị sự nghiệp chấp hành mệnh lệnh hành chính. Rất ít công trình giải quyết bài toán này dưới giác độ Quản lý kinh tế (QLKT) hiện đại, coi TĐH là chủ thể tự chủ cung ứng dịch vụ công ích và Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, giám sát thông qua hệ thống công cụ chính sách vĩ mô.
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Văn Mạnh (2018) với đề tài "Hoàn thiện chính sách đối với đào tạo theo nhu cầu xã hội của các trường đại học Việt Nam" (Chuyên ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Thương mại) đã giải quyết toàn diện 4 câu hỏi nghiên cứu (RQs):
- RQ1: Thực trạng đào tạo theo NCXH của các TĐH Việt Nam đang diễn ra như thế nào về quy mô, cơ cấu ngành nghề và chất lượng?
- RQ2: Hệ thống chính sách hiện hành của Nhà nước thể hiện mức độ phù hợp và mức độ tác động ra sao đối với đào tạo theo NCXH?
- RQ3: Những điểm nghẽn, hạn chế căn bản của chính sách bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan nào?
- RQ4: Cần thiết lập khung giải pháp và lộ trình chính sách nào để thúc đẩy đào tạo đại học đáp ứng thực chất NCXH đến năm 2025 và tầm nhìn 2030?
Khung lý thuyết của công trình tích hợp Lý thuyết Vốn nhân lực (Human Capital Theory), Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management - NPM) và Mô hình Ba xoắn ốc (Triple Helix Model). Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thứ cấp giai đoạn 10 năm (2007–2017, cập nhật 2018) trên phạm vi toàn quốc, kết hợp khảo sát sơ cấp sâu rộng trong năm 2017 đối với 3 nhóm chủ thể trọng yếu: cán bộ quản lý TĐH, doanh nghiệp tuyển dụng và người học/cựu sinh viên.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về mối quan hệ giữa GDĐH và thị trường lao động phản ánh sự phát triển qua nhiều trường phái học thuật:
[Trường phái Vốn nhân lực & Thị trường] [Trường phái Quản trị công & Thể chế]
- Baum & Payea (2005), World Bank (2012) - Truong Thuy Van (2018), Paul Bryant (2007)
- Phùng Xuân Nhạ (2009), Lương Xuân Quỳ (2010) - Phan Huy Hùng (2009), Lương Văn Hải (2011)
\ /
\ /
[KHOẢNG TRỐNG HỌC THUẬT: QLKT]
- Tiếp cận TĐH là đơn vị tự chủ cung ứng dịch vụ
- Đánh giá chính sách qua 2 chiều: Phù hợp & Tác động
- Định vị vai trò Nhà nước: Từ "Kiểm soát" sang "Giám sát"
- Nhóm nghiên cứu về bản chất nhu cầu xã hội và đào tạo đáp ứng thị trường: Gregory A. (2004) và Autar S. (2005) nhấn mạnh tính thích ứng của chương trình đào tạo với thị trường toàn cầu. Tại Việt Nam, Bành Tiến Long (2007) phân tách NCXH thành 3 nhóm: nhu cầu của Nhà nước, nhu cầu của doanh nghiệp (DN) và nhu cầu của người học. Nguyễn Thiện Nhân (2008), Nguyễn Minh Đường (2008), Phùng Xuân Nhạ (2009) và Hồ Cảnh Hạnh (2012) khẳng định đào tạo theo NCXH thực chất là quản trị quan hệ cung - cầu nhân lực, đòi hỏi gắn kết mật thiết giữa TĐH và DN, áp dụng các chuẩn CDIO hoặc POHE.
- Nhóm nghiên cứu về chính sách và cơ chế quản lý nhà nước (QLNN): Lương Xuân Quỳ & cộng sự (2010) nghiên cứu cơ chế hỗ trợ đào tạo theo NCXH nhưng đặt trong bối cảnh tự chủ đại học còn sơ khai. Các nghiên cứu của Lê Phước Minh (2005), Trần Đức Cân (2012), Phạm Thị Ly (2015), Đặng Ứng Vận (2018), Truong Thuy Van (2018) đã phân tích các khía cạnh tài chính, mô hình đại học tư thục và quản trị đại học theo tinh thần Quản trị công mới (NPM).
Tranh luận học thuật cốt lõi (Debates): Tồn tại hai luồng quan điểm đối lập. Luồng quan điểm thứ nhất thiên về "Kế hoạch hóa tập trung" cho rằng Nhà nước cần can thiệp sâu vào chỉ tiêu, mở ngành và phê duyệt khung chương trình để tránh dư thừa nhân lực. Ngược lại, luồng quan điểm thứ hai ủng hộ "Kinh tế thị trường tự do" cho rằng nên trao toàn quyền tự chủ tuyển sinh và định giá học phí cho TĐH theo tín hiệu thị trường.
Vị thế và đóng góp của luận án: Luận án định vị chính xác điểm cân bằng dựa trên mô hình Nhà nước giám sát (State Supervision). So với nghiên cứu của Trung Quốc (chuyển đổi mô hình phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra và kiểm định chất lượng độc lập) hay Malaysia (thực hiện Khung trình độ quốc gia MQF và chính sách ưu đãi thuế mạnh mẽ cho DN hợp tác R&D với viện - trường), luận án đã chứng minh: chính sách của Việt Nam còn mang nặng tư duy "Nhà nước kiểm soát" vi mô, dẫn đến triệt tiêu động lực cạnh tranh lành mạnh. Công trình đóng góp hệ thống luận cứ kinh tế học vững chắc để tái cấu trúc chính sách GDĐH từ can thiệp hành chính sang điều tiết gián tiếp bằng đòn bẩy kinh tế và tiêu chuẩn chất lượng.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Quản trị kinh tế công và Lý thuyết Vốn nhân lực trong lĩnh vực GDĐH thông qua việc xây dựng 2 định nghĩa chuẩn xác:
Nhu cầu xã hội đối với đào tạo đại học: "Là sự thống nhất giữa nhu cầu của người học, nhà tuyển dụng lao động và Nhà nước về quy mô, cơ cấu và chất lượng của đào tạo đại học và theo đó là quy mô, cơ cấu và chất lượng sản phẩm của đào tạo đại học (người học tốt nghiệp), đặt trong bối cảnh cụ thể của nền kinh tế - xã hội."
Đào tạo theo nhu cầu xã hội của các trường đại học: "Là quá trình mà trong đó các trường đại học căn cứ vào nhu cầu xã hội để phát triển chương trình đào tạo, phát triển nguồn lực đào tạo, tổ chức đào tạo đảm bảo thỏa mãn nhu cầu mang tính thống nhất của các bên liên quan cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng đào tạo, trong đó các trường đại học có trách nhiệm giúp người học hình thành được kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp (năng lực tự chủ và trách nhiệm) phù hợp với mỗi trình độ của đào tạo đại học; đảm bảo người học tốt nghiệp ra trường đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng, của thực tiễn nghề nghiệp cũng như đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng bối cảnh cụ thể."
Về mặt học thuật, luận án thúc đẩy bước chuyển đổi hệ hình (paradigm shift) từ mô hình "Cung ứng khép kín định hướng đầu vào" sang mô hình "Dịch vụ định hướng đầu ra và trách nhiệm giải trình", đặt TĐH vào vị thế một tổ chức tự chủ chịu sự chi phối của quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Thị trường dịch vụ giáo dục, Mô hình Liên kết Ba xoắn ốc (Triple Helix: Nhà nước - TĐH - Doanh nghiệp) và Lý thuyết Chu trình chính sách công.
Khung phân tích xác lập 5 nhóm chính sách công cụ trụ cột:
- Chính sách phát triển ngành đào tạo và xác định chỉ tiêu tuyển sinh: Chuyển từ cơ chế xin - cho sang cơ chế tự chủ dựa trên điều kiện đảm bảo chất lượng và dự báo thị trường.
- Chính sách phát triển năng lực đào tạo của TĐH: Bao gồm 7 phân hệ nguồn lực: mức độ tự chủ đại học, chương trình đào tạo (CTĐT), đội ngũ giảng viên (ĐNGV), cơ sở vật chất (CSVC), tiềm lực tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ (KHCN), và mức độ hợp tác quốc tế (HTQT).
- Chính sách thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa TĐH và nhà tuyển dụng (Doanh nghiệp): Thiết lập khung pháp lý, cơ chế chia sẻ chi phí và ưu đãi tài chính.
- Chính sách đối với người học: Hệ thống học phí, học bổng, chính sách tín dụng ưu đãi và hướng nghiệp.
- Chính sách về trách nhiệm giải trình và kiểm định chất lượng: Quy định công khai chuẩn đầu ra, kiểm định bắt buộc bởi các tổ chức kiểm định độc lập.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ lập trường nhận thức luận của Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) và phương pháp luận duy vật biện chứng. Thiết kế nghiên cứu đa phương pháp kết hợp định tính và định lượng (Mixed Methods - Sequential Explanatory Design).
Luận án phân tầng hệ thống phân tích theo 3 cấp độ (Multi-level analysis):
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Khung khổ thể chế, pháp luật và chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ GDĐT.
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Cơ chế vận hành, năng lực quản trị và đào tạo của các cơ sở GDĐH trên phạm vi toàn quốc.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Hành vi, đánh giá và lợi ích của các bên liên quan gồm giảng viên, người học và người sử dụng lao động (doanh nghiệp).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ qua 4 bước:
BƯỚC 1: Thu thập Dữ liệu Thứ cấp (10 năm: 2007-2017, cập nhật 2018)
BƯỚC 2: Thiết kế & Thử nghiệm Bảng hỏi Khảo sát (Tháng 03/2017)
BƯỚC 3: Triển khai Khảo sát Thực địa Toàn diện (03/2017 - 11/2017)
BƯỚC 4: Xử lý Thống kê & Phân tích Đa giác hóa (Triangulation)
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập toàn bộ số liệu thống kê vĩ mô giai đoạn 2007–2017 về quy mô mạng lưới trường lớp, chỉ tiêu tuyển sinh, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, tỷ lệ sinh viên/giảng viên, cơ cấu chi tiêu ngân sách nhà nước (NSNN) cho GDĐH.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát diện rộng từ tháng 03/2017 đến tháng 11/2017 bằng phiếu hỏi cấu trúc chuẩn hóa, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá 2 tiêu chí cốt lõi: Tính phù hợp (Suitability) và Mức độ tác động (Impact) của từng chính sách cụ thể.
- Kỹ thuật tam giác đạc (Triangulation): Kết hợp kiểm chứng chéo giữa dữ liệu thống kê nhà nước, ý kiến đánh giá từ cơ sở đào tạo và phản hồi thực tế từ thị trường lao động (DN) nhằm đảm bảo giá trị cấu trúc (construct validity) và độ tin cậy (reliability) cao nhất.
Data và phân tích
Dữ liệu thứ cấp phản ánh bức tranh toàn cảnh: Số lượng trường đại học tăng nhanh từ 2006 đến 2016; quy mô sinh viên trên một vạn dân tăng mạnh nhưng phân bổ vùng miền mất cân đối (tập trung chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ).
Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng các phần mềm phân tích thống kê chuyên ngành, thực hiện kiểm định tính hợp lệ của thang đo, phân tích phương sai và so sánh mức độ hài lòng/đánh giá giữa các nhóm đối tượng. Các tiêu chí thuộc Tiêu chuẩn 3 (Chương trình đào tạo), Tiêu chuẩn 5 (Đội ngũ giảng viên), Tiêu chuẩn 7 (Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ) và Tiêu chuẩn 9 (Thư viện, CSVC) theo Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT được phân tích chi tiết nhằm lượng hóa các điểm nghẽn năng lực của các TĐH Việt Nam.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Sự mất cân đối trầm trọng về cơ cấu ngành nghề và tỷ lệ thất nghiệp kỹ năng: Dữ liệu điều tra lao động việc làm giai đoạn 2016–2017 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm thanh niên có trình độ đại học trở lên luôn ở mức cao đáng báo động. Cơ cấu đào tạo thiên lệch quá mức vào các khối ngành Xã hội - Kinh doanh - Quản lý, trong khi các ngành Kỹ thuật - Công nghệ mũi nhọn thiếu hụt nghiêm trọng, phản ánh sự thất bại của chính sách phân bổ chỉ tiêu mang tính hành chính.
- Nghịch lý "Tự chủ nửa vời" và rào cản từ cơ chế chủ quản: Mặc dù chính sách chủ trương mở rộng tự chủ, các TĐH vẫn bị ràng buộc bởi mạng lưới can thiệp hành chính vi mô (mở ngành, định mức học phí, tuyển dụng nhân sự, đầu tư công). Điều này triệt tiêu khả năng phản ứng linh hoạt của nhà trường trước những biến động nhanh chóng của thị trường lao động.
- Mối liên kết TĐH - Doanh nghiệp dừng lại ở mức hình thức: Đánh giá từ đại diện lãnh đạo doanh nghiệp (Bảng 3.16) cho thấy phần lớn các thỏa thuận hợp tác viện - trường chỉ mang tính phong trào (ký kết MOU, tiếp nhận thực tập ngắn hạn). Chưa có cơ chế kinh tế sòng phẳng (chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ, ưu đãi khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp cho chi phí tài trợ R&D) để tạo động lực nội sinh cho doanh nghiệp đầu tư vào đào tạo.
- Nút thắt phân bổ tài chính công và suất đầu tư thấp: Chi tiêu NSNN cho GDĐH trong tổng chi giáo dục luôn ở mức thấp so với các nước trong khu vực (Bảng 3.9 & 3.10). Cơ chế phân bổ ngân sách mang tính cào bằng theo đầu vào (số lượng sinh viên) thay vì gắn với kết quả đầu ra (tỷ lệ việc làm đúng ngành, chất lượng kiểm định CTĐT).
- Đội ngũ giảng viên và năng lực NCKH chưa đáp ứng chuẩn mực quốc tế: Tỷ lệ sinh viên/giảng viên ở mức cao (Bảng 3.8); tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ còn thấp; hoạt động NCKH chưa gắn với chuyển giao công nghệ cho khu vực sản xuất. Tuyên ngôn của UNESCO khẳng định: "Hoạt động quốc tế của GDĐH là một thành phần cố hữu của chất lượng của nó", song mức độ HTQT của các TĐH Việt Nam còn rất hạn chế.
Implications đa chiều
- Hàm ý lý thuyết: Cung cấp khung phân tích QLKT hoàn chỉnh, tích hợp các lý thuyết kinh tế thị trường vào quản trị dịch vụ công, giải quyết mâu thuẫn giữa tính định hướng xã hội chủ nghĩa và quy luật thị trường trong GDĐH.
- Hàm ý phương pháp luận: Thiết lập bộ công cụ đánh giá chính sách giáo dục dựa trên 2 tiêu chí Sự phù hợp và Sự tác động, có khả năng tái sử dụng để đánh giá các chính sách công khác trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và đào tạo sau đại học.
- Hàm ý thực tiễn và chính sách: Đề xuất lộ trình sửa đổi Luật Giáo dục đại học (đã đóng góp quan trọng vào quá trình sửa đổi Luật số 34/2018/QH14), xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, chuyển từ kiểm soát đầu vào sang giám sát đầu ra, xây dựng hệ thống thông tin dự báo thị trường lao động quốc gia.
Limitations và Future Research
- Giới hạn phạm vi cấp học: Luận án tập trung chủ yếu vào trình độ đại học chính quy, chưa đi sâu vào bậc đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) và các hình thức đào tạo liên thông, vừa làm vừa học.
- Giới hạn về dữ liệu không gian: Khảo sát tập trung tại các trường đại học công lập và tư thục dân sự lớn, chưa bao quát khối trường thuộc lực lượng vũ trang (an ninh, quốc phòng) và các cơ sở giáo dục đại học quốc tế có vốn đầu tư 100% nước ngoài.
- Giới hạn về đo lường tác động dài hạn: Do chu kỳ đào tạo đại học kéo dài 4–6 năm, việc đánh giá tác động của một số chính sách mới ban hành (như thí điểm tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP) mới chỉ dừng lại ở kết quả sơ khởi.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Phát triển mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của chính sách tự chủ tài chính đến mức độ tiếp cận GDĐH của các nhóm sinh viên yếu thế.
- Nghiên cứu cơ chế tài chính cho mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong xây dựng khu công nghệ cao và trung tâm R&D tại các TĐH.
- Đánh giá tác động của CMCN 4.0 và chuyển đổi số đến sự thay đổi cấu trúc kỹ năng của lực lượng lao động Việt Nam.
Tác động và ảnh hưởng
- Ảnh hưởng học thuật: Luận án là công trình tiên phong tiếp cận chính sách GDĐH dưới chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Thương mại, mở ra hướng nghiên cứu kinh tế học GDĐH bài bản, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho các nghiên cứu sinh và học viên cao học.
- Ảnh hưởng chính sách: Các khuyến nghị của luận án cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Quốc hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, và Bộ GDĐT trong quá trình hoàn thiện thể chế tự chủ đại học và quy hoạch mạng lưới GDĐH giai đoạn 2021–2030.
- Ảnh hưởng kinh tế - xã hội: Thúc đẩy quá trình tái cấu trúc ngành đào tạo, giảm thiểu lãng phí nguồn lực công và chi phí cơ hội của xã hội do tình trạng thất nghiệp kỹ thuật của sinh viên tốt nghiệp, nâng cao năng suất lao động quốc gia.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích lý thuyết liên ngành hoàn chỉnh và bộ dữ liệu thứ cấp/sơ cấp tin cậy về kinh tế giáo dục đại học.
- Lãnh đạo các Trường Đại học: Nhận diện rõ 7 thành tố cấu thành năng lực đào tạo, từ đó chủ động đổi mới quản trị nội bộ, tái cấu trúc CTĐT theo chuẩn quốc tế và xây dựng chiến lược liên kết bền vững với doanh nghiệp.
- Cộng đồng Doanh nghiệp: Nắm bắt cơ chế và đề xuất chính sách để tham gia sâu vào quá trình đào tạo, tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp nhu cầu thực tế, giảm chi phí đào tạo lại.
- Nhà hoạch định chính sách (Quốc hội, Bộ GDĐT, Bộ Tài chính, Bộ LĐ-TB&XH): Sở hữu căn cứ thực chứng để thiết kế cơ chế phân bổ ngân sách, chính sách thuế, và khung pháp lý thúc đẩy tự chủ đại học thực chất.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Quản trị công mới (NPM) và Lý thuyết Vốn nhân lực bằng cách xây dựng luận thuyết kinh tế về "Tự chủ đại học có điều kiện gắn với Trách nhiệm giải trình đa phương" trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Luận án chỉ ra rằng TĐH phải vận hành như một đơn vị tự chủ cung ứng dịch vụ công, trong đó Nhà nước chuyển từ vai trò "quản lý mệnh lệnh vi mô" sang "nhà nước giám sát và điều tiết vĩ mô" thông qua đòn bẩy tài chính và chuẩn kiểm định chất lượng.
2. Điểm mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?
So với các nghiên cứu trước (Hoàng Thị Thu Hà, 2012; Ngô Thị Minh, 2013) vốn chỉ dùng phương pháp định tính hoặc khảo sát hẹp theo tiếp cận Quản lý giáo dục, luận án thiết kế phương pháp hỗn hợp (Mixed Methods) tiếp cận liên cấp độ (Macro - Meso - Micro), đồng thời phát triển bộ công cụ đánh giá chính sách đồng thời trên 2 trục: Sự phù hợp (Suitability) và Sự tác động (Impact) với sự tham gia chéo của 3 chủ thể: Nhà trường - Doanh nghiệp - Người học.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng: Mặc dù các TĐH than phiền về sự thiếu hụt tài chính và cơ sở vật chất, nhưng rào cản lớn nhất kìm hãm đào tạo theo NCXH không phải là tiền vốn, mà là "Sự trói buộc về cơ chế hành chính và sự thiếu vắng động lực kinh tế cho doanh nghiệp". Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư tài chính và trang thiết bị cho TĐH nếu chính sách cho phép họ được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp và chia sẻ công bằng quyền sở hữu trí tuệ từ kết quả nghiên cứu.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản nghiên cứu (Replication protocol) không?
Có. Luận án trình bày chi tiết toàn bộ khung nghiên cứu (Hình 1.1), bảng cấu trúc các chỉ tiêu đo lường, quy trình chọn mẫu phân tầng, hệ thống bảng hỏi khảo sát chuẩn hóa và phương pháp xử lý dữ liệu. Các nhà nghiên cứu khác có thể áp dụng nguyên vẹn quy trình này để đánh giá chính sách đào tạo theo NCXH cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp (Cao đẳng, Trung cấp) hoặc cho các phân vùng kinh tế trọng điểm.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm (10-year agenda) được vạch ra như thế nào?
Chương trình nghiên cứu hướng tới 3 trọng tâm:
- Thiết kế cơ chế chia sẻ chi phí và phân bổ ngân sách công dựa trên kết quả đầu ra (Performance-based funding) cho GDĐH Việt Nam.
- Xây dựng mô hình Dự báo nhu cầu kỹ năng quốc gia (National Skills Forecasting Model) ứng dụng Trí tuệ nhân tạo và Dữ liệu lớn.
- Khung thể chế cho kinh tế đại học số (Digital Higher Education Economy) và việc công nhận kỹ năng vi chứng chỉ (Micro-credentials) trong bối cảnh học tập suốt đời.
Kết luận
- Xác lập hệ thống lý luận vững chắc: Định hình khung lý thuyết Quản lý kinh tế đối với chính sách đào tạo theo nhu cầu xã hội của các TĐH, phân định rõ ràng vai trò của Nhà nước từ "kiểm soát" sang "giám sát".
- Lượng hóa thực trạng chính sách: Đánh giá thực chứng toàn diện sự phù hợp và mức độ tác động của 5 nhóm chính sách công cụ đối với GDĐH Việt Nam trong suốt giai đoạn 2007–2017.
- Đột phá về cơ chế tự chủ và trách nhiệm giải trình: Khẳng định tự chủ đại học toàn diện (học thuật, tổ chức nhân sự, tài chính) là điều kiện tiên quyết để TĐH thích ứng với tín hiệu thị trường lao động.
- Kiến tạo mô hình liên kết Ba xoắn ốc (Triple Helix) thực chất: Đề xuất khung chính sách kinh tế (ưu đãi thuế, sở hữu trí tuệ, quỹ phát triển KHCN) để biến doanh nghiệp thành chủ thể đồng kiến tạo chương trình và tài trợ đào tạo.
- Đổi mới căn bản cơ chế phân bổ tài chính công: Đưa ra phương án phân bổ ngân sách nhà nước dựa trên hiệu quả đầu ra, kiểm định chất lượng và tỷ lệ việc làm của người học, thay thế triệt để cơ chế cấp phát bình quân.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới: Đặt nền móng cho các nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế học giáo dục đại học, quản trị đại học hiện đại và thị trường dịch vụ giáo dục tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện.