CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 1. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Hiện nay các thuật ngữ đào tạo, bồi dưỡng được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nhiều lĩnh vực khác nhau.Tuy nhiên, các cụm từ này chưa được thống nhất và nhất quán về cách hiểu.
Phân tích những nét nghĩa chính của hai khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” được các Từ điển giải thích cho thấy, đây là hai khái niệm, mặc dù có những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể - mà trước hết, đó là sự khác biệt cơ bản về chất của cả một quá trình giáo dục. Từ đó có thể hiểu đào tạo và bồi dưỡng như sau: - Đào tạo: là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp- Theo Đại từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên ( Nxb. Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2008.
Theo cách hiểu trong giáo dục học, đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể.Quá trình truyền đạt này phải là một quá trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học cụ thể, trong một khoảng thời gian nhất định. Yếu tố xuất phát điểm của năng lực, kiến thức đầu vào của đối tượng được đào tạo không nhất thiết làm rõ, nhưng năng lực và kiến thức đầu ra phải được qui chuẩn và xác định rõ các tiêu chuẩn đã đạt được. Sự chuyển biến về chất lượng năng 9 n lực và kiến thức của đối tượng được đào tạo sau khi trải qua một qui trình dạy và học để có thể đảm nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học. Đào tạo còn được hiểu là quá trình tác động đến con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần công sức của mình vào việc phát triển xã hội và khai hóa nền văn minh của loài người.
Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. Tuy nhiên, theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức, thuật ngữ đào tạo được hiểu là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. - Bồi dưỡng: Theo Từ điển Tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2010), 1.Là làm cho tăng thêm sức bổ cho cơ thể; 2.
Tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Theo Đại Từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2008) ,Bồi dưỡng- đó là: 1.
Làm cho khỏe thêm, mạnh thêm; 2. Bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp truyền đạt thêm, cũng không nhất thiết phải thay đổi cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức của người học, mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho họ. Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức, thuật ngữ bồi dưỡng được hiểu là quá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho CBCC. Bồi dưỡng là công 10 n việc thường được tiến hành sau đào tạo, nó bổ sung thêm kiến thức chuyên môn cho người lao động trong quá trình làm việc trên nền tảng kiến thức đã được đào tạo.
Như vậy, có thể nói, đến nay cả về mặt khoa học và pháp lý, đã có sự thống nhất cơ bản về các khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” và tồn tại với 02 khái niệm độc lập. Tuy nhiên, bên cạnh 02 khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những khái niệm độc lập, trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là đào tạo bồi dưỡng là một thuật ngữ chung không tách rời, bởi vì chúng có cùng mục đích chung là làm cho người lao động có năng lực công tác. Việc phân định hiện nay chỉ mang tính chất tương đối. Nếu như khái niệm “đào tạo” được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; Còn khái niệm “bồi dưỡng” chỉ được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể.
Cán bộ, công chức cấp xã - Cán bộ cấp xã: Tại khoản 3, điều 4 Luật CBCC năm 2008 quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã), là công dân Việt Nam, được bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”. Theo đó, cán bộ cấp xã là những người giữ các chức vụ: Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã; Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam xã, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã. - Công chức cấp xã: Cũng tại khoản 3, điều 4 Luật CBCC năm 2008 quy định“Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một 11 n chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo đó,Công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau đây: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Tài chính - Kế toán;Địa chính - Xây dựng- Đô thị và Môi trường; Văn hóa - Xã hội; Tư pháp - Hộ tịch.
Từ 02 khái niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu, cán bộ xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đững đầu các tổ chức chính trị xã hội ở xã; Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Các nội dung của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Căn cứ Luật CBCC năm 2008; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng CBCC; Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 /09 /2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức; Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức giai đoạn 2016-2025; Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã gồm các nội dung sau đây: 1. Đào tạo, bồi dưỡng về Lý luận chính trị CBCC cấp xã là những người trực tiếp tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước. Do vậy, để đảm bảo việc việc triển khai thực hiện các chủ trương chính sách đó một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời theo quan điểm của Đảng thì đòi hỏi CBCC cấp xã cần phải có một trình độ lý luận chính trị nhất định.
Trình độ chính trị của cán bộ công chức cấp xã được biểu hiện qua việc nhận thức 12 n được các quy luật, đặc biệt là quy luật kinh tế, xã hội; là sự nhận thức đúng đắn đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đội ngũ CBCC xã có trình độ lý luận chính trị tốt, thể hiện được ý thức tuân thủ kỷ luật Đảng, gương mẫu chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tinh thần đấu tranh chống lại các biểu hiện lệch lạc, sai trái trong quá trình thực thi công vụ và sinh hoạt trong đời sống xã hội. Trình độ lý luận chính trị là một trong những yêu cầu kiến thức quan trọng, không thể thiếu đối với CBCC cấp xã. Trình độ chính trị sẽ định hướng cho CBCC hoạt động đúng hướng theo ý chí của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân; đồng thời giúp cho CBCC biết được mình đang sống và làm việc theo chế độ xã hội nào, qua đó biết mình cần phải làm gì và hành động như thế nào cho đúng với chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị cho CBCC xã là đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ chí Minh, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước thông qua tổ chức các lớp Trung cấp chính trị, Cao cấp chính trị. để trang bị, cập nhật chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt. đủ sức lãnh đạo, quản lý và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ Đội ngũ CBCC cấp xã là những người trực tiếp giải quyết những tình huống phức tạp tại cơ sở, liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân.
Do vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm. Trình độ chuyên môn thể hiện sự hiểu biết và khả năng vận dụng, thực hành chuyên môn nghiệp vụ trong thực thi công 13 n vụ; bên cạnh đó, trình độ chuyên môn còn được thể hiện qua các khía cạnh về ngạch, bậc, hình thức đào tạo; kỹ năng và kinh nghiệm công tác của CBCC cấp xã. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBCC cấp xã được biểu hiện thông qua các cấp độ đào tạo khác nhau: sơ cấp, trung cấp, đại học. Ở mỗi cấp độ là sự thể hiện bề dày kiến thức, kỹ năng chuyên môn khác nhau của cán bộ công chức; vì vậy, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ là nền tảng để CBCC cấp xã thực thi công vụ.