Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách cải cách kinh tế Chương 2: Thực trạng chính sách cải cách kinh tế của Myanamar giai đoạn 1996 - 2016. Chương 3: Một số đánh giá về chính sách cải cách kinh tế ở Myanmar và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH KINH TẾ 1. Khái niệm chính sách Từ các góc độ tiếp cận khác nhau, cho đến nay, xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về “chính sách”, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, chính sách được hiểu là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong thời gian nhất định, trên một lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…” [ 13, tr. Cần nhấn mạnh rằng để đưa ra được những chính sách đúng thì mỗi quốc gia cần căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn cũng như phải giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, đồng thời phải linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Khái niệm chính sách kinh tế Chính sách kinh tế của Nhà nước được tiếp cận theo nghĩa Nhà nước đưa ra các quyết định can thiệp hoặc không can thiệp vào nền kinh tế thị trường nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu mong muốn nào đó. Nói cách khác, chính sách kinh tế, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là “chính sách và biện pháp kinh tế mà nhà nước áp dụng trong một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử, nhằm đạt được những yêu cầu và mục tiêu kinh tế, chính trị nhất định.
Chính sách có thể mang tính chất đường lối, chiến lược lâu dài, có thể mang tính chất sách lược ngắn hạn. Chính sách kinh tế được xây dựng trên cơ 8 sở những điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và xu hướng phát triển của xã hội” [13, tr. Hệ công cụ và cơ chế tác động của chính sách kinh tế của nhà nước là các phương tiện mà cơ quan quản lý kinh tế của Nhà nước sử dụng để tác động vào nền kinh tế, hướng các hoạt động kinh tế đến các mục tiêu mà chủ thể chính sách mong muốn. Hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào hiệu lực, hiệu quả tác động của hệ công cụ mà chính sách sử dụng.
Khi bàn về chính sách kinh tế của Nhà nước, cần làm rõ các yếu tố: chủ thể của chính sách, đối tượng tác động của chính sách, mục tiêu của chính sách và bộ công cụ của chính sách. Cụ thể như sau: Chủ thể của chính sách kinh tế là các cơ quan quản lý kinh tế của Nhà nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường, một số cơ quan Nhà nước, trong phạm vi quyền hạn được ban hành chính sách kinh tế: Quốc hội, Chính phủ và chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân các cấp). Trong đó, Quốc hội ban hành các chính sách kinh tế có phạm vi thực hiện trong cả nước, liên quan đến các vấn đề quốc kế, dân sinh như các luật kinh tế, các chính sách thu, chi của chính phủ, các quyết định về hợp tác kinh tế quốc tế ở tầm quốc gia… Chính phủ ban hành các chính sách thực thi luật, nghị quyết của Quốc hội và tổ chức thực hiện các chính sách đó.
Chính quyền địa phương ban hành các chính sách cụ thể hóa luật và chính sách của Chính phủ và tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với địa phương. Đối tượng chịu tác động chính sách kinh tế của Nhà nước là người tiêu dùng và người sản xuất, trong đó đối tượng thụ hưởng là những người, tổ chức được lợi từ chính sách; còn đối tượng chịu ảnh hưởng là những người, tổ chức bị thiệt từ chính sách. Chính sách kinh tế của Nhà nước phải thông qua hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng mới phát huy tác dụng trong nền 9 kinh tế thị trường. Nếu chính sách kinh tế gây thiệt hại tới lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng thì sẽ gặp phải phản ứng chống đối của họ.
Mục tiêu của chính sách kinh tế của Nhà nước nhằm duy trì trạng thái vĩ mô ổn định (ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát, cân đối tích cực ngân sách Nhà nước, kiểm soát cán cân thanh toán quốc tế trong giới hạn an toàn…), phát triển kinh tế bền vững (tốc độ tăng trưởng phù hợp, hình thành cơ cấu nền kinh tế hiệu quả, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sống của người dân), công bằng (giảm phân phối bất công bằng). Mỗi chính sách có thể có một hoặc một số mục tiêu được cụ thể hóa thành hệ thống chỉ tiêu. Mỗi quốc gia đều có những chính sách kinh tế khác nhau, yêu cầu đặt ra là đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể và mục tiêu phát triển của mình. Ví dụ đối với nước ta, chính sách kinh tế của nhà nước là xây dựng nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục đích xây dựng một nền kinh tế phát triển với cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ hợp lý, hợp tác kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khái niệm chính sách cải cách kinh tế Cải cách kinh tế, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, được hiểu là “ …sự thay đổi trong nền kinh tế quốc dân trên cơ sở quan điểm, đường lối, chính sách đổi mới nhằm giải quyết mâu thuẫn trong từng thời kỳ giữa yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất một cách năng động với tình trạng lạc hậu của các quan hệ sản xuất và của những hình thức tổ chức và cơ chế quản lý”. Trong lịch sử phát triển đất nước nói chung, phát triển kinh tế nói riêng của các quốc gia, ứng với mỗi thời kỳ nhất định, phụ thuộc vào bối cảnh quốc tế và trong nước, chính phủ các nước thường đề ra các chủ trương, chính sách 10 phù hợp nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế từ lạc hậu, chậm phát triển sang phát triển một cách có hiệu quả và bền vững. Ví dụ, cuối những năm 1970, Trung Quốc đã tiến hành công cuộc cải cách mở cửa nền kinh tế từ thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung đưa nền kinh tế trở thành một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới; còn ở Việt Nam, cũng giống như Trung Quốc, từ thực hiện mô hình kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, nhưng từ Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1986) công cuộc đổi mới kinh tế được bắt đầu nhằm mục tiêu thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước và quan hệ quốc tế, thay đổi cơ chế tổ chức quản lý kinh tế xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu và bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết hợp chặt chẽ đổi mới chủ trương, chính sách kinh tế, tổ chức quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế hàng hoá, phát huy hết các mặt tích cực, hạn chế các nhân tố tiêu cực của kinh tế thị trường; đổi mới cơ chế kinh tế, tổ chức ở tầm vi mô, phát huy triệt để vai trò chủ động, khả năng tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính.
Kết hợp cải cách kinh tế với cải cách hành chính và đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ t hống chính trị. Những phương hướng đó đã thu được thành tựu nổi bật, khắc phục tình trạng sản xuất trì trệ và khủng hoảng kinh tế, kiềm chế lạm phát, giải phóng mọi năng lực sản xuất tạo ra nhịp độ phát triển kinh tế xã hội cao, cải thiện một bước đời sống nhân dân về vật chất cũng như tinh thần [13, tr. Như vậy, từ khái niệm về chính sách kinh tế cũng như cải cách kinh tế có thể hiểu chính sách cải cách kinh tế là việc đề ra các quan điểm chủ trương, chính sách đổi mới của Nhà nước nhằm giải quyết những bất hợp lý trong phát triển kinh tế đất nước với cơ cấu kinh tế, hình thức tổ chức và cơ 11 chế quản lý phù hợp với từng giai đoạn nhất định, đáp ứng đòi hỏi trong bối cảnh trong nước và quốc tế mới, mang lại hiệu quả thiết thực cho quốc gia, dân tộc. Chính sách kinh tế 1.
Vai trò của chính sách kinh tế - Chính sách kinh tế là bộ công cụ quản lý của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường. Về cơ bản, chính sách kinh tế sử dụng các công cụ của thị trường để điều tiết hành vi của các chủ thể kinh tế. Chính sách kinh tế, một mặt, tạo các điều kiện cho phép thị trường hoạt động hiệu quả, mặt khác, bổ sung cơ chế điều tiết của Nhà nước trong các lĩnh vực thị trường bất lực. Với cách hành xử như vậy, chính sách kinh tế của Nhà nước có khả năng thích ứng với các quan hệ thị trường.
- Chính sách kinh tế là bộ công cụ quản lý tổng hợp giúp Nhà nước thực hiện thành công các mục tiêu rộng lớn, phức tạp, trong khuôn khổ thời gian và nguồn lực có hạn. Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ quản lý chương trình mục tiêu cho phép các cơ quan Nhà nước hoạch định các chương trình dài hạn trên cơ sở tính toán khoa học các nguồn lực đầu vào (vốn, nhân lực, tài nguyên, thời gian), các phương thức hành động (giải pháp, tổ chức quản lý) và các đầu ra dự kiến tương đối chính xác (mục tiêu). Thông qua xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế, Nhà nước có thể can thiệp một cách chủ động vào nền kinh tế với hiệu quả và mức độ thành công khá cao. Hơn nữa, chính sách kinh tế là một chương trình hành động có hệ thống, có cân nhắc, nhất quán theo thời gian để hướng tới các mục tiêu, kết hợp tính ngắn hạn với tính dài hạn.