phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu phần nội dung chính của luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Chƣơng 2: Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế 7 Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ 1. Một số khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư *) Khái niệm chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Nói đến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tức là đề cập đến chính sách công do các cơ quan nhà nước ban hành có liên quan đến lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong một giai đoạn nhất định.
Trong đó, nó bao gồm cả quan điểm, đường lối, mục tiêu, nguyên tắc và các quy định cụ thể của Nhà nước về thực hiện hoặc không thực hiện các công việc nhất định khi Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để phục vụ vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế. Theo cách hiểu thông thường, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tập hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan, đơn vị, tổ chức với người bị ảnh hưởng bởi quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước khi thực hiện các công việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. *) Khái niệm thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu theo nghĩa chung nhất là quá trình triển khai các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên thực tế. Đây là một quá trình thực tiễn gồm xây dựng kế hoạch thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định; thông báo, phổ biến kế hoạch; chuẩn bị các điều kiện để xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như kiểm 9 đếm, đo đạc, xác định điều kiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; lấy ý kiến phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chi trả tiền, di dời nhà cửa; kiểm tra, giám sát.
cho đến tổng kết rút kinh nghiệm. Hiệu lực của việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được phát sinh, đảm bảo bằng các quyết định hành chính nhà nước của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục quy định. Tóm lại, thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là quá trình thực tiễn làm cho các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có hiệu lực, hiệu quả trên thực tế bằng các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục quy định. *) Khái niệm thu hồi đất: Điều 53 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” [10].
Nhà nước đại diện cho toàn dân thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đặc biệt là đất đai, trong đó bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Trong thực tế, Nhà nước thường giao quyền sử dụng đất đai cho các chủ thể khác trong xã hội như cá nhân, tổ chức, hộ gia đình… (gọi tắt là người sử dụng đất) bằng các quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Khi cần thiết phải chấm dứt việc sử dụng đất của người này để trao quyền sử dụng đất đó cho người khác hoặc vì lý do người đang sử dụng đất vi phạm pháp Luật Đất đai hoặc tự nguyện trả lại đất đang sử dụng, Nhà nước buộc người đang sử dụng đất phải chấm dứt quyền sử dụng đất của mình bằng việc thu hồi đất đó. 10 Tóm lại, “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” [11].
*) Khái niệm bồi thường về đất: Vấn đề bồi thường đặt ra khi một bên gây thiệt hại đến bên kia và bên gây thiệt hại phải trả lại giá trị mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu. Việc bồi thường xuất phát từ cơ sở Nhà nước xem quyền sử dụng đất là một thứ tài sản của công dân. Điều này đã được thể hiện trong nội dung Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì đất đai được xác định là tài sản, cụ thể là bất động sản.
Bên cạnh đó, theo Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Từ đó có thể khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất tức là đã tước mất tài sản của người sử dụng đất do đó phải đặt ra vấn đề bồi thường. Tuy nhiên, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ đặt ra khi việc sử dụng đất đó là hợp pháp.
Tức là khi người sử dụng dụng đất đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa cấp. Tóm lại, “bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” [11]. Ngoài bồi thường về đất, khi thu hồi đất nếu gây thiệt hại về tài sản gắn liền với đất thì Nhà nước cũng phải xem xét bồi thường cho người sử dụng đất theo quy định. *) Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Khi Nhà nước thu hồi đất, ngoài phần bồi thường được xác định trên nguyên tắc ngang giá thì Nhà nước còn trợ giúp cho người bị thu hồi đất một khoản tiền hoặc tài sản khác để giúp người có đất sớm ổn định đời sống, sản xuất và có cơ hội phát triển kinh tế, góp phần ổn định xã hội.
Các khoản hỗ trợ được phân thành hỗ trợ về đất, hỗ 11 trợ tài sản trên đất, hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm, hỗ trợ tái định cư và các khoản hỗ trợ khác. Tóm lại, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất “là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” [11]. Vận dụng lý thuyết địa tô và quy luật giá trị vào việc xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1. Vận dụng lý thuyết địa tô Theo Các Mác, trong quá trình sản xuất, nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê, mướn ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất.
Theo hợp đồng thuê mướn, nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho chủ đất dưới hình thức địa tô. Nhưng giai cấp tư sản vẫn bóc lột người công nhân để tạo ra giá trị thặng dư, một phần sẽ nộp cho địa chủ và phần còn lại, nhà tư bản chiếm không. Giá cả ruộng đất là biểu hiện của hình thức địa tô tư bản hoá. Bởi ruộng đất đem lại địa tô, tức là đem lại một thu nhập ổn định bằng tiền nên nó được xem như một loại tư bản đặc biệt, còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó.
Do đó giá cả ruộng đất là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi tức hiện hành. Nó tỷ lệ thuận với địa tô và tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức tư bản gửi vào tổ chức tín dụng. Để cụ thể hóa lý thuyết này, tại Khoản 1 Điều 112 của Luật Đất đai năm 2013 đã quy định: Việc định giá đất phải bảo đảm phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất. Theo Điều 114 của Luật Đất đai năm 2013 thì căn cứ vào bảng giá đất của UBND tỉnh ban hành năm năm một lần, các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 12 tham mưu Hội đồng thẩm định giá đất của cấp tỉnh thẩm định trình UBND cấp tỉnh quyết định phục vụ cho việc tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, tính tiền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp và tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Về phương pháp xác định giá đất để bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, tại Điều 4 của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về giá đất đã quy định năm (5) phương pháp để định giá đất gồm phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp chiết trừ, phương pháp thu nhập, phương pháp thặng dư và phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Trong các phương pháp này thì phương pháp thu nhập và phương pháp thặng dư là biểu hiện rõ nhất của sự vận dụng triệt để lý thuyết địa tô vào việc xác định giá đất phục vụ cho việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.