Phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 03 chƣơng 9 tiết. 12 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP TỈNH 1. Một số vấn đề về chính sách bồi dƣỡng công chức 1. Khái niệm, nội dung bồi dưỡng công chức 1.
Khái niệm công chức, bồi dưỡng công chức * Khái niệm công chức Khái niệm công chức mang tính lịch sử đƣợc hình thành trong điều kiện nhất định, cùng với sự phát triển của chế độ công vụ trong quá trình phát triển của xã hội. Đây là khái niệm phổ biến đƣợc các quốc gia sử dụng để chỉ những ngƣời đang giữ những chức trách, nhiệm vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan, tổ chức của bộ máy nhà nƣớc. Ở Việt Nam cùng với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc mà khái niệm công chức đƣợc hình thành và có những thay đổi nhất định theo từng giai đoạn lịch sử. Lần đầu tiên khái niệm công chức đƣợc nhắc đến vào năm 1950, ở Điều1 Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”[38, tr1].
Sau đó, trong một thời gian khá dài, nƣớc ta không sử dụng khái niệm công chức riêng nữa, mà đƣợc thay thế bởi khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nƣớc. Thực hiện quá trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính nhà nƣớc nhằm đáp ứng yêu cầu mới, ngày 25/5/1991 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nƣớc, khái niệm công chức đƣợc sử dụng trở lại và đƣợc định nghĩa ở 13 điều 1 của Nghị định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức nhà nước”[26; tr1]. Nhƣ vậy, theo nghị định giáo viên, công an, nhà báo, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu khoa học không đƣợc gọi là cán bộ hay công chức, hay viên chức tức là họ chƣa đƣợc xếp vào loại nào. Đến năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức ra đời đã có nhiều thay đổi trong quy định cán bộ, công chức.
Điều 1, Pháp lệnh quy định: “Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: 1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 3. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng.
Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; 5. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp” [51; tr1]. 14 Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức là tất cả những ngƣời làm việc trong cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Tuy nhiên, chƣa đƣợc phân rõ ra thành hai nhóm đối tƣợng riêng biệt là “cán bộ” và “công chức”.
Vào năm 2003, để cụ thể hoá thuật ngữ công chức, Chính phủ đã ban hành nghị định 117/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nà nƣớc. Nghị định chỉ rõ về cơ quan nơi làm việc của công chức, nhƣng chƣa đƣa ra đƣợc căn cứ để phân biệt rõ công chức và cán bộ. Trƣớc những đòi hỏi của tình hình mới, cần một văn bản cao hơn, quy định rõ hơn, cụ thể, toàn diện những vấn đề liên quan đến cán bộ, công chức, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức có hiệu lực từ 01/01/2010. Trong Luật này, khái niệm công chức có phạm vi rộng hơn, điều 4 của Luật quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [34; tr 1].
15 Tóm lại, công chức là ngƣời do bầu cử, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Đảng, nhà nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện vàhành chính; công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Theo trình độ đào tạo, công chức đƣợc phân thành 4 nhóm: (1). Công chức có trình độ đào tạo chuyên môn từ bậc đại học trở lên – Loại A; (2) Công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc trung học chuyên nghiệp, cao đẳng - loại B; (3). Công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc sơ cấp - loại C; (4).
Công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc dƣới sơ cấp - loại D. * Khái niệm bồi dưỡng công chức Bồi dƣỡng là một thuật ngữ, đƣợc sử dụng rộng rãi và theo từ điển Tiếng việt, thì bồi dƣỡng đƣợc định nghĩa là làm cho ai đó giỏi hơn và tốt hơn, là tái đào tạo hay đào tạo lại. Theo quy định của Bộ Tƣ pháp năm 2018 thì: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Bồi dƣỡng có thể hiểu là một quy trình trải qua việc giảng dạy, giáo dục nhằm mục đích nâng cao đƣợc những kỹ năng và kiến thức mới cho những công nhân viên đƣợc giữ chức vụ hoặc đang thực thi công tác làm việc của một bậc, ngạch nào đó nhất định để hoàn toàn có thể sát hạch và đạt nhu yếu.
Và lúc này công nhân viên nào hoàn thành xong khóa học bồi dƣỡng sẽ nhận đƣợc chứng từ Certificate để vật chứng cũng nhƣ ghi nhận tác dụng đó. Ở một khía cạnh khác bồi dƣỡng còn đƣợc hiểu là quá trình của một ngƣời nào đó sẽ cập nhật, học hỏi thêm kiến thức cùng với rèn luyện thêm các kĩ năng để nâng cao chuyên môn nghề nghiệp. 16 Từ đó, ta có thể hiểu Bồi dƣỡng công chức chính là quá trình học hỏi, bổ sung kiến thức, kĩ năng để giúp cán bộ công chức có thể nâng cao trình độ chuyên môn, bổ sung những tri thức còn thiếu. Đồng thời cập nhật những kiến thức mới để cán bộ công chức có thể hoàn thiện hơn về cả lí thuyết cũng nhƣ chuyên môn nghiệp vụ trong xử lí công việc.
Từ đó sẽ giúp nâng cao chất lƣợng hiệu quả công việc của cá nhân cũng nhƣ bộ máy. Và bòi dƣỡng là một bƣớc tiếp nối của quá trình đào tạo. Nội dung bồi dưỡng công chức Nghị định về đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức năm 2017 của Chính phủ qui định năm nội dung bồi dƣỡng cán bộ, công chức gồm: “(1.) bồi dưỡng lý luận chính trị; (2). bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh; (3).
bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; (4). bồi dưỡng kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức hội nhập quốc tế; (5). bồi dưỡng tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ”[12;tr2]. Vào ngày 18 tháng 10 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 89/2021/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1 thàng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức đã xác định 4 nội dung bồi dƣỡng bao gồm: Thứ nhất, lý luận chính trị, Bồi dƣỡng lý luận chính trị cho công chức đƣợc thực hiện theo tiêu chuẩn quy định cho cán bộ, công chức.
Mục tiêu của bồi dƣỡng lý luận chính trị là nhằm không ngừng trang bị, củng cố, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho công chức. Với hạt nhân là chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc; Giúp cho công chức có nền tảng lý luận vững chắc, có ý thức bảo vệ, lan tỏa, phát triển nền tảng tƣ tƣởng của Đảng. Thông qua quá trình 17 bồi dƣỡng lý luận chính trị, các công chức có thể hiểu đƣợc những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; hiểu đƣợc sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình đổi mới đất nƣớc. Qua đó giúp công chức nâng cao bản lĩnh cách mạng, củng cố niềm tin; nỗ lực phát triển bản thân, sẵn sàng cống hiến vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Bồi dƣỡng lý luận chính trị nâng cao tinh thần cảnh giác và khả năng “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên trƣớc những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng Internet và mạng xã hội để tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc cũng nhƣ những thành quả của cách mạng Việt Nam.