phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tóm tắt luận văn. 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, vai trò và nội dung chính sách bảo vệ môi trƣờng 1. Khái niệm chính sách bảo vệ môi trường 1.
Khái niệm môi trường Vấn đề môi trƣờng là một vấn đề lớn và đa dạng, do vậy tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau sẽ có các khái niệm môi trƣờng khác nhau. Các khái niệm môi trƣờng tuy đƣợc thể hiện dƣới những góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau nhƣng đều hƣớng tới việc nhận rõ môi trƣờng trong thế giới xung quanh và những yếu tố hợp thành của môi trƣờng. Môi trƣờng, theo định nghĩa trong Từ điển Anh - Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa Việt Nam 2005 là: “điều kiện xung quanh ảnh hưởng đến đời sống”. Môi trƣờng đƣợc định nghĩa trong Tuyên ngôn của Tổ chức Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp quốc (UNESCO) năm 1981 là: “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”.[11, tr234] Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”.
9 Môi trƣờng có các chức năng cơ bản sau: “(1) Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật (2) Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; (3) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình; (4) Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất (5) Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.”[14; tr12] Xét về môi trƣờng bao giờ cũng bao gồm hai yếu tố: môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng vật chất nhân tạo. Hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hƣởng tới đời sống con ngƣời, đến quá trình sản xuất, đến sự sự tồn tại, phát triển của tự nhiên và xã hội. Tóm lại có thể hiểu môi trƣờng theo 2 nghĩa: Theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con ngƣời, nhƣ tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nƣớc, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.Theo nghĩa hẹp môi trƣờng chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lƣợng cuộc sống con ngƣời. Khái niệm bảo vệ môi trường Môi trƣờng là yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống của con ngƣời, vì vậy, bảo vệ môi trƣờng là vấn đề sống còn của nhân loại.
Bảo vệ môi trƣờng là bảo vệ cuộc sống của chính mỗi ngƣời nói riêng và cho cả nhân loại nói chung. Môi trƣờng chính là không gian sống của loài ngƣời và mọi sinh vật, là nơi cung cấp đầu vào cũng nhƣ đầu ra cho quá trình phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống cho con ngƣời. Nguồn nƣớc, không khí, đất là những 10 thứ tác động trực tiếp tới sức khỏe của con ngƣời. Trong bối cảnh hiện nay, môi trƣờng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nƣớc, ô nhiễm đất,… cùng với những thiên tai nhƣ động đất, sóng thần, bão lũ… đã và đang đe dọa đến sự sống còn của nhân loại Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình phát triển, việc thúc đẩy phát triển kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác bừa bãi các nguồn lợi từ thiên nhiên đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng.
Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2020 định nghĩa: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu”.[40, tr2] Luật BVMT đã nêu rõ nguyên tắc BVMT nhƣ sau: “(1) BVMT là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, công đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân; (2) BVMT là điều kiện, nền tảng, yếu tố trungtâm, tiên quyết cho phát triển KTXH bền vững. Hoạt động BVMT phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển; (3) BVMT gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành; (4) Hoạt động BVMT phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh, chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải; (5) BVMT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, cơ chế thị trường, trình độ phát 11 triển KTXH; thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; (6) Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động BVMT; gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật; (7) Hoạt động BVMT bảo đảm không gây phương hại chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia, gắn liền với BVMT khu vực và toàn cầu” [40, tr4]. Khái niệm chính sách bảo vệ môi trường Chính sách là khái niệm đa dạng đƣợc nhiều khoa học định nghĩa: Trong giáo trình chính sách kinh tế – xã hội, các tác giả đƣa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế -xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”.[sdd] Từ điển bách khoa Việt Nam đã đƣa ra khái niệm về chính sách nhƣ sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Chính sách bảo vệ môi trƣờng là những biện pháp, cách thức nhà nƣớc sử dụng để giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trƣờng, ứng phó sự cố môi trƣờng, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trƣờng, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trƣờng trong lành. Vai trò chính sách bảo vệ môi trường 1. Chính sách bảo vệ môi trường góp phần đảm bảo sự đa dạng sinh học và sức khỏe của con người Trong sự vận động của xã hội loài ngƣời, con ngƣời đã sống hàng nghìn năm trong sự đa dạng sinh học và phụ thuộc vào sự đa dạng sinh học. Trong các giai đoạn lịch khác nhau nhận thức của con ngƣời cũng khác nhau, đến nay con ngƣời cũng nhận thức đƣợc tầm quan trọng sống còn của đa dạng sinh học.
Mãi đến năm 1988, đa dạng sinh học vói tƣ cách là khái niệm mới xuất hiện trong tác phẩm “Biodiversity” của nhà sinh học E.o Wilson và sau đố đƣợc đề cập nhiều lần ƣong các công trinh nghiên cứu khác, kể cả các công trình do Quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên phát triển thực hiện. Đa dạng sinh học với tƣ cách là vấn đề của pháp luật đƣợc nhiều quốc gia quy định, nhất là sau khi Công ƣớc quốc tế về đa dạng sinh học đƣợc thông qua tại Nairobi vào ngày 22 tháng 5 năm 1992 và đƣợc 150 quốc gia kí vào ngày 5 tháng 6 năm đó. Từ đó, đa dạng sinh học đã ƣở thành vấn đề pháp lí quốc tế và quốc gia đƣợc hầu hết các nƣớc ttên thế giới quan tâm. Nếu tiếp cận từ quan điểm kết cấu thì đa dạng sinh học bao gồm các thực thể sống quần tụ lại theo nhóm, loài, cộng đồng.
Tiếp cận từ góc độ chức năng thì nói đến đa dạng sinh học là nói đến các hệ sinh thái và các quá trình tiến hoá. Các định nghĩa về đa dạng sinh học đều thừa nhận mối liên hệ giữa các giống loài, sự phụ thuộc vào nhau giữa chúng trong quá trình tiến hoá và phát triển, đa dạng sinh học cấu thành nền tảng của cuộc sống ttên ttái đất, cuộc sống của cả con ngƣời và các thực thể sống khác. 13 Đa dạng sinh học có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối vói sự phát triển bền vững của nhân loại gồm: những giá trị kinh tế, môi trƣờng và cuộc sống to lớn, giá trị sức khoẻ của con ngƣời, sống trong môi trƣờng tự nhiên, con ngƣời chịu sự tác động của tự nhiên, bởi vì con ngƣời là một phần của tự nhiên. Đa dạng sinh học giữ cho con ngƣời môi trƣờng sống tốt cho sức khoẻ.
Giá trị thể hiện ở chỗ sức khoẻ của con ngƣời phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, vào môi trƣờng. Điều này thể hiện ở khả năng của đa dạng sinh học trong việc làm trong sạch nƣớc và không khí; phân hoá các độc tố bị phát tán do hoạt động của con ngƣời hoặc các tác động thiên nhiên. Nhiều loài thực vật có khả năng hấp thụ các chất độc trong không khí, giữ cho con ngƣời môi trƣờng không khí ƣong lành. Rõ ràng khỉ rừng nhiệt đới bị tàn phá, da dạng sinh học bị kiệt quệ sẽ góp phần làm cho tầng ôzôn bị thủng, tạo ra những thay đổi thời tiết bất lợi đối với sức khoè của con ngƣời.
Do vậy từ khi nhận thức đƣợc sự quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học mà con ngƣời đã không ngừng đƣa ra các chính sách bảo vệ, liên tục nâng cao hiệu quả qua từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử.