phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Nhìn lại sự dính líu của Mỹ đối với Việt Nam từ năm 1950 đến 1959. Chính quyền Kennedy và cuộc chiến tranh Việt Nam (1960 – 1963). “Ở Việt Nam, chúng ta đang ở trong một đƣờng hầm mà chƣa thấy lối ra” (Kennedy) – Sự phá sản nặng nề của chính quyền Kennedy trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng1. NHÌN LẠI SỰ DÍNH LÍU CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ NĂM 1950 ĐẾN NĂM 1959. Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện quốc tế chuyển sang một bƣớc ngoặt lớn. Trật tự thế giới hai cực đƣợc hình thành trên cơ sở so sánh lực lƣợng giữa các bên tham chiến chủ chốt vào cuối chiến tranh.
Từ ngày 4 đến 11-2-1945, Hội nghị tam cƣờng – Liên Xô, Mỹ, Anh đã họp ở Yalta (Liên Xô) nhằm giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ phe Đồng minh chống phát xít. Hội nghị đã diễn ra gay go, quyết liệt, cuối cùng đã đi tới những quyết định quan trọng về việc nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở châu Âu, châu Á – Thái Bình Dƣơng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít, quyết định thành lập tổ chức Liên hợp quốc dựa trên nền tảng và nguyên tắc cơ bản sự nhất trí giữa năm cƣờng quốc Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc để giữ gìn hoà bình và an ninh thế giới sau chiến tranh. Bên cạnh đó, hội nghị cũng đi tới thỏa thuận việc đóng quân ở các nƣớc bại trận và phân chia phạm vi ảnh hƣởng giữa các cƣờng quốc ở châu Âu, châu Á. Để tránh tổn thất lớn khi đổ bộ đánh Nhật, phía Mỹ và Anh đã đáp ứng các điều kiện để Liên Xô tham chiến chống quân phiệt Nhật.
Đó là: duy trì nguyên trạng Mông Cổ, trả lại Liên Xô những quyền lợi của đế quốc Nga ở Viễn Đông. Những quyết định của hội nghị đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới, từng bƣớc đƣợc thiết lập trong những năm 1945 – 1947, thƣờng đƣợc gọi là “trật tự hai cực Yalta”. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nƣớc đã mở rộng ra nhiều nƣớc trên thế giới, hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa. Liên Xô ngày càng phát triển, trở thành cƣờng quốc mạnh nhất châu Âu, giữ vị trí quan trọng trên vũ đài chính trị thế giới.
Với uy tín và ảnh 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hƣởng mạnh mẽ, Liên Xô trở thành trung tâm của phong trào cộng sản quốc tế, là lực lƣợng chủ yếu chống lại âm mƣu bá chủ thế giới của Mỹ. Hệ thống các nƣớc đế quốc chủ nghĩa bị chấn động: ba đế quốc Đức, Italia, Nhật Bản đã bị lực lƣợng Đồng minh đánh bại; Anh, Pháp suy yếu. Chỉ có Mỹ vƣợt lên mạnh mẽ sau chiến tranh, đứng đầu thế giới tƣ bản chủ nghĩa với thực lực kinh tế hùng hậu, ƣu thế hạt nhân áp đảo. Mỹ ra sức lôi kéo, tập hợp lực lƣợng chống lại các nƣớc xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.
Tháng 3 - 1947, trong diễn văn đọc trƣớc Quốc hội Mỹ, Tổng thống Truman chính thức phát động cuộc “chiến tranh lạnh” chống Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa. Truman cho rằng các nƣớc Đông Âu “vừa mới bị cộng sản thôn tính”, “Chủ nghĩa cộng sản đang đe dọa thế giới tự do”… Vì vậy, Mỹ phải đứng ra “đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do”, “giúp đỡ” các dân tộc trên thế giới chống lại “sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản”. Với sự ra đời của “chủ nghĩa Truman”, mối quan hệ đồng minh giữa Liên Xô với Mỹ và các nƣớc phƣơng Tây trong thời kì chiến tranh chống phát xít tan vỡ, thay vào đó là cuộc “chiến tranh lạnh”. Để lôi kéo các nƣớc Đồng minh vào cuộc “chiến tranh lạnh”, tháng 6 - 1947, Quốc hội Mỹ thông qua kế hoạch Marshall – một kế hoạch viện trợ cho các nƣớc Tây Âu.
Tháng 4 - 1948, Quốc hội Mỹ thông qua “Đạo luật viện trợ nƣớc ngoài” với những quy định nhƣ: các nƣớc nhận viện trợ phải kí với Mỹ những hiệp định tay đôi có lợi cho Mỹ, phải thi hành các chính sách kinh tế, tài chính mà Mỹ yêu cầu, phải bảo đảm quyền lợi cho tƣ nhân Mỹ đầu tƣ kinh doanh, phải thiết lập tài khoản đặc biệt mà muốn sử dụng tài khoản này phải đƣợc Mỹ đồng ý… Ngoài ra đạo luật còn buộc các nƣớc nhận viện trợ chấm dứt việc buôn bán với các nƣớc xã hội chủ nghĩa, hủy bỏ kế hoạch “quốc hữu hóa” và gạt lực lƣợng tiến bộ ra khỏi chính phủ. Trong thời gian thực hiện kế 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch Marshall từ 4-1958 đến 12-1951, Mỹ đã chi 12,5 tỉ đôla. Kế hoạch này đã giúp các nƣớc tƣ bản Tây Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và phát triển nhanh chóng trong những năm 50, 60. Nhƣng mặt khác, kế hoạch Marshall đã giúp Mỹ xâm nhập về kinh tế, tiến tới can thiệp về chính trị, quân sự đối với các nƣớc Tây Âu.
Trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, từ tháng 7 - 1947, Liên Xô tiến hành kí kết các hiệp ƣớc liên minh kinh tế với các nƣớc Đông Âu, chuẩn bị cho việc thành lập một tổ chức kinh tế chung. Ngày 8-1-1949, hội nghị kinh tế gồm đại diện các nƣớc Liên Xô, Anbani, Ba Lan, Bungari, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc quyết định thành lập Hội đồng tƣơng trợ kinh tế (SEV), một tổ chức liên minh kinh tế của các nƣớc xã hội chủ nghĩa. Nhƣ vậy, trên thế giới đã hình thành hai khối kinh tế đối lập nhau và đi kèm theo đó là hai khu vực thị trƣờng riêng rẽ. Thêm vào đó, tháng 4 - 1949, tại Washington, 12 nƣớc Tây Âu và Bắc Mĩ quyết định thành lập Tổ chức Hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng (NATO).
Mặc dù nội dung bản Hiệp ƣớc nói về mục đích “bảo vệ hoà bình” nhƣng thực chất đây là một khối quân sự phục vụ cho lợi ích của chủ nghĩa đế quốc, chĩa mũi nhọn vào Liên Xô, các nƣớc xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Năm 1955, Mĩ đƣa Tây Đức vào khối NATO, làm cho tình hình thế giới thêm căng thẳng, nền hòa bình của các nƣớc châu Âu bị đe dọa. Trong bối cảnh đó, tháng 5 – 1955, Liên Xô và các nƣớc Đông Âu thành lập Tổ chức Hiệp ƣớc Vacsava nhằm bảo vệ an ninh của các nƣớc thành viên, duy trì hoà bình ở châu Âu, trở thành một đối trọng với NATO. Nhƣ vậy, sau khi chiến tranh kết thúc chƣa đầy một thập niên, ở châu Âu hình thành hai khối quân sự đối đầu ráo riết chạy đua vũ trang.
Cuộc “chiến tranh lạnh” giữa hai cực Xô - Mĩ, sự đối đầu giữa hai khối Đông - Tây ngày càng trở nên gay gắt. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh việc tranh giành phạm vi ảnh hƣởng và vai trò lãnh đạo thế giới của các nƣớc lớn, sự đối đầu giữa hai phe tƣ bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa còn có cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lƣợc, hiếu chiến với nhân dân các nƣớc, các dân tộc bị áp bức. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh trở thành trào lƣu cách mạng rộng lớn, sôi sục, làm cho hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc bị tan vỡ từng mảng. Thắng lợi của Liên Xô và các lực lƣợng Đồng minh trong các cuộc chiến tranh chống phát xít đã cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh bƣớc vào một thời kì phát triển mới.
Nhiều nƣớc đã giành đƣợc thắng lợi và tuyên bố nền độc lập của mình. Đặc biệt, ngày 1-10- 1949, cách mạng dân tộc dân chủ Trung Hoa thắng lợi, nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập. Với diện tích bằng ¼ châu Á và chiếm ¼ dân số toàn thế giới, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã phá vỡ một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc… Phong trào giải phóng dân tộc ở các nƣớc Á, Phi, Mĩ Latinh dẫn đến sự hình thành các quốc gia độc lập từng bƣớc làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, làm rạn nứt những quy định của “trật tự hai cực Yalta” và đƣa các nƣớc Á, Phi, Mĩ Latinh bƣớc lên vũ đài quốc tế, góp phần giải quyết những công việc trọng đại của cục diện thế giới. Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1959 1.
Ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam. Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, là nƣớc có vị trí chiến lƣợc quan trọng, có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Chính vì vậy, khi chủ nghĩa tƣ bản phát triển khao khát tìm kiếm thị trƣờng thì Việt Nam nhanh chóng đƣợc chú ý đến. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù cách xa nửa vòng trái đất, bị ngăn trở bởi Thái Bình Dƣơng song Mỹ đã chú ý đến Việt Nam từ rất lâu.
“Năm 1819, nhiều chiến thuyền Mỹ đã đến Việt Nam, dò dẫm luồng lạch trên sông Đồng Nai và tìm đƣờng đến Sài Gòn. Năm 1832, Mỹ lại cho thuyền vào vùng biển Việt Nam, thả neo ngoài khơi Phú Yên, Vũng Tàu. Năm 1836, chiến thuyền Mỹ lại có mặt ở Sơn Trà (Đà Nẵng)” [49, tr. Tuy nhiên, thời gian này Mỹ chƣa có điều kiện để tiến hành những hoạt động xâm lƣợc Việt Nam vì vẫn chỉ là một đế quốc khu vực trong khi Việt Nam lại ở xa.
Đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, Mỹ trở thành một trong những cƣờng quốc tƣ bản thế giới. Bằng cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898, Mỹ chiếm đƣợc Philippin – một thuộc địa lớn của Tây Ban Nha, từ đây Mỹ chú ý hơn đến Việt Nam, nhƣng nơi này thuộc sự cai trị của thực dân Pháp. Cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ chƣa có điều kiện để đặt chân vào Việt Nam, nhƣng Mỹ đã có nhiều hành động thể hiện sự quan tâm “đặc biệt”: nhƣ khi Pháp thua Nhật và Nhật sắp đầu hàng, chính quyền Mỹ đã dự định đặt Đông Dƣơng dƣới chế độ “ủy trị quốc tế” trực thuộc Mỹ và Tƣởng để thay thế cho chế độ bảo hộ của thực dân Pháp, nhƣng không thực hiện đƣợc.