Chính Quyền Kennedy và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1963)

Khám phá luận văn thạc sĩ về chính quyền Kennedy và cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1960-1963, phân tích sâu sắc các sự kiện lịch sử quan trọng.

Chuyên ngành

Lịch sử thế giới

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

139
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Cấu trúc của luận văn

1. NHÌN LẠI SỰ DÍNH LÍU CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ NĂM 1950 ĐẾN NĂM 1959

1.1. Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai

1.2. Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1959

1.3. Ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam

1.4. Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1950 đến tháng 7 - 1954

1.5. Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam từ tháng 7- 1954 đến năm 1959

2. CHÍNH QUYỀN KENNEDY VÀ CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1960 – 1963)

2.1. Vài nét về tình hình thế giới đầu những năm 60

2.2. Chính quyền Kennedy và chiến lược toàn cầu của Mỹ

2.3. Kennedy trúng cử Tổng thống và nội các chính quyền Kennedy

2.4. Chiến lược toàn cầu của Mỹ trong giai đoạn Kennedy cầm quyền

2.5. Chiến lược quân sự toàn cầu “Phản ứng linh hoạt”

2.6. Chính quyền Kennedy và cuộc chiến tranh Việt Nam

2.7. Tình hình Nam Việt Nam khi Kennedy lên nắm chính quyền

2.8. Chính sách của chính quyền Kennedy đối với Việt Nam

2.9. Quá trình thực hiện đường lối và các chính sách của chính quyền Kennedy ở Việt Nam

“Ở VIỆT NAM, CHÚNG TA ĐANG Ở TRONG MỘT ĐƢỜNG HẦM MÀ CHƢA THẤY LỐI RA…” (KENNEDY) – SỰ PHÁ SẢN NẶNG NỀ CỦA CHÍNH QUYỀN KENNEDY TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Những thất bại của chính quyền Kennedy trong cuộc chiến tranh Việt Nam

Cuộc kháng chiến kiên cường của nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Phong trào nhân dân thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ

Mâu thuẫn giữa giới cầm quyền Mỹ với Nam Việt Nam và trong nội bộ chính quyền Sài Gòn

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chính quyền Kennedy và Cuộc chiến tranh Việt Nam

Chính quyền Kennedy (1961-1963) đã có những quyết định quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thời kỳ này đánh dấu sự gia tăng can thiệp quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Chính quyền Kennedy đã áp dụng chiến lược quân sự mới nhằm đối phó với tình hình phức tạp tại đây. Sự can thiệp này không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam mà còn tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị đầu những năm 60

Thế giới đầu những năm 60 chứng kiến nhiều biến động lớn. Sự gia tăng của phong trào giải phóng dân tộc và sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội đã khiến Mỹ lo ngại. Chính quyền Kennedy đã phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc duy trì ảnh hưởng của Mỹ tại Đông Nam Á.

1.2. Chiến lược quân sự của Chính quyền Kennedy

Chiến lược quân sự của Kennedy được gọi là 'Phản ứng linh hoạt'. Chiến lược này nhằm tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, đồng thời sử dụng các lực lượng địa phương để chống lại sự phát triển của phong trào cộng sản.

II. Những thách thức mà Chính quyền Kennedy phải đối mặt tại Việt Nam

Chính quyền Kennedy đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự kháng cự mạnh mẽ từ phía nhân dân miền Nam và sự bất ổn chính trị đã làm cho tình hình trở nên phức tạp. Những thất bại trong chiến lược quân sự đã dẫn đến những quyết định khó khăn cho Mỹ.

2.1. Tình hình chính trị tại Nam Việt Nam

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì quyền lực. Sự bất mãn của quần chúng và các phong trào phản kháng đã làm cho chính quyền này trở nên yếu kém. Điều này đã tạo ra một môi trường bất ổn cho sự can thiệp của Mỹ.

2.2. Sự phản kháng của nhân dân miền Nam

Phong trào kháng chiến tại miền Nam đã phát triển mạnh mẽ. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã trở thành lực lượng chủ chốt trong cuộc chiến chống lại sự can thiệp của Mỹ. Sự kiên cường của nhân dân miền Nam đã làm cho chiến lược của Mỹ gặp nhiều khó khăn.

III. Phân tích chiến lược quân sự của Chính quyền Kennedy

Chiến lược quân sự của Chính quyền Kennedy đã có những thay đổi đáng kể so với các chính quyền trước đó. Sự chuyển hướng từ 'Trả đũa ào ạt' sang 'Phản ứng linh hoạt' đã phản ánh sự cần thiết phải điều chỉnh chiến lược trong bối cảnh mới.

3.1. Chiến tranh đặc biệt và các chiến dịch quân sự

Chiến tranh đặc biệt được áp dụng như một phương pháp chính để đối phó với phong trào cộng sản. Các chiến dịch quân sự đã được triển khai nhằm bình định miền Nam, nhưng kết quả không như mong đợi.

3.2. Vai trò của các cố vấn quân sự Mỹ

Sự hiện diện của các cố vấn quân sự Mỹ đã gia tăng trong giai đoạn này. Họ không chỉ hỗ trợ về mặt quân sự mà còn tham gia vào việc hoạch định chiến lược. Tuy nhiên, sự can thiệp này cũng gây ra nhiều tranh cãi và phản đối.

IV. Hệ lụy của Chính quyền Kennedy trong cuộc chiến tranh Việt Nam

Hệ lụy từ các quyết định của Chính quyền Kennedy đã để lại những tác động sâu sắc đến Việt Nam và chính sách đối ngoại của Mỹ. Những thất bại trong chiến lược quân sự đã dẫn đến sự thay đổi trong cách tiếp cận của Mỹ đối với Việt Nam.

4.1. Những thất bại quân sự và chính trị

Chính quyền Kennedy đã phải đối mặt với nhiều thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Những thất bại này không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh của Mỹ mà còn làm gia tăng sự bất mãn trong nội bộ chính quyền.

4.2. Tác động đến quan hệ quốc tế

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm xói mòn uy tín của Mỹ trên trường quốc tế. Sự can thiệp quân sự đã dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ các nước khác và làm gia tăng sự chỉ trích đối với chính sách đối ngoại của Mỹ.

V. Kết luận và tương lai của cuộc chiến tranh Việt Nam

Cuộc chiến tranh Việt Nam dưới thời Chính quyền Kennedy đã để lại nhiều bài học quý giá. Những quyết định sai lầm và sự can thiệp quân sự không hiệu quả đã dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng cho cả Việt Nam và Mỹ. Tương lai của cuộc chiến tranh này sẽ phụ thuộc vào những thay đổi trong chính sách của Mỹ.

5.1. Bài học từ cuộc chiến tranh

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã để lại nhiều bài học về sự can thiệp quân sự và chính sách đối ngoại. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

5.2. Tương lai của quan hệ Mỹ Việt Nam

Mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đã có những thay đổi tích cực sau cuộc chiến. Tương lai của quan hệ này sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai quốc gia.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Nhìn lại sự dính líu của Mỹ đối với Việt Nam từ năm 1950 đến 1959. Chính quyền Kennedy và cuộc chiến tranh Việt Nam (1960 – 1963). “Ở Việt Nam, chúng ta đang ở trong một đƣờng hầm mà chƣa thấy lối ra” (Kennedy) – Sự phá sản nặng nề của chính quyền Kennedy trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng1. NHÌN LẠI SỰ DÍNH LÍU CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ NĂM 1950 ĐẾN NĂM 1959. Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện quốc tế chuyển sang một bƣớc ngoặt lớn. Trật tự thế giới hai cực đƣợc hình thành trên cơ sở so sánh lực lƣợng giữa các bên tham chiến chủ chốt vào cuối chiến tranh.

Từ ngày 4 đến 11-2-1945, Hội nghị tam cƣờng – Liên Xô, Mỹ, Anh đã họp ở Yalta (Liên Xô) nhằm giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ phe Đồng minh chống phát xít. Hội nghị đã diễn ra gay go, quyết liệt, cuối cùng đã đi tới những quyết định quan trọng về việc nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở châu Âu, châu Á – Thái Bình Dƣơng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít, quyết định thành lập tổ chức Liên hợp quốc dựa trên nền tảng và nguyên tắc cơ bản sự nhất trí giữa năm cƣờng quốc Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc để giữ gìn hoà bình và an ninh thế giới sau chiến tranh. Bên cạnh đó, hội nghị cũng đi tới thỏa thuận việc đóng quân ở các nƣớc bại trận và phân chia phạm vi ảnh hƣởng giữa các cƣờng quốc ở châu Âu, châu Á. Để tránh tổn thất lớn khi đổ bộ đánh Nhật, phía Mỹ và Anh đã đáp ứng các điều kiện để Liên Xô tham chiến chống quân phiệt Nhật.

Đó là: duy trì nguyên trạng Mông Cổ, trả lại Liên Xô những quyền lợi của đế quốc Nga ở Viễn Đông. Những quyết định của hội nghị đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới, từng bƣớc đƣợc thiết lập trong những năm 1945 – 1947, thƣờng đƣợc gọi là “trật tự hai cực Yalta”. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nƣớc đã mở rộng ra nhiều nƣớc trên thế giới, hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa. Liên Xô ngày càng phát triển, trở thành cƣờng quốc mạnh nhất châu Âu, giữ vị trí quan trọng trên vũ đài chính trị thế giới.

Với uy tín và ảnh 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hƣởng mạnh mẽ, Liên Xô trở thành trung tâm của phong trào cộng sản quốc tế, là lực lƣợng chủ yếu chống lại âm mƣu bá chủ thế giới của Mỹ. Hệ thống các nƣớc đế quốc chủ nghĩa bị chấn động: ba đế quốc Đức, Italia, Nhật Bản đã bị lực lƣợng Đồng minh đánh bại; Anh, Pháp suy yếu. Chỉ có Mỹ vƣợt lên mạnh mẽ sau chiến tranh, đứng đầu thế giới tƣ bản chủ nghĩa với thực lực kinh tế hùng hậu, ƣu thế hạt nhân áp đảo. Mỹ ra sức lôi kéo, tập hợp lực lƣợng chống lại các nƣớc xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Tháng 3 - 1947, trong diễn văn đọc trƣớc Quốc hội Mỹ, Tổng thống Truman chính thức phát động cuộc “chiến tranh lạnh” chống Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa. Truman cho rằng các nƣớc Đông Âu “vừa mới bị cộng sản thôn tính”, “Chủ nghĩa cộng sản đang đe dọa thế giới tự do”… Vì vậy, Mỹ phải đứng ra “đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do”, “giúp đỡ” các dân tộc trên thế giới chống lại “sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản”. Với sự ra đời của “chủ nghĩa Truman”, mối quan hệ đồng minh giữa Liên Xô với Mỹ và các nƣớc phƣơng Tây trong thời kì chiến tranh chống phát xít tan vỡ, thay vào đó là cuộc “chiến tranh lạnh”. Để lôi kéo các nƣớc Đồng minh vào cuộc “chiến tranh lạnh”, tháng 6 - 1947, Quốc hội Mỹ thông qua kế hoạch Marshall – một kế hoạch viện trợ cho các nƣớc Tây Âu.

Tháng 4 - 1948, Quốc hội Mỹ thông qua “Đạo luật viện trợ nƣớc ngoài” với những quy định nhƣ: các nƣớc nhận viện trợ phải kí với Mỹ những hiệp định tay đôi có lợi cho Mỹ, phải thi hành các chính sách kinh tế, tài chính mà Mỹ yêu cầu, phải bảo đảm quyền lợi cho tƣ nhân Mỹ đầu tƣ kinh doanh, phải thiết lập tài khoản đặc biệt mà muốn sử dụng tài khoản này phải đƣợc Mỹ đồng ý… Ngoài ra đạo luật còn buộc các nƣớc nhận viện trợ chấm dứt việc buôn bán với các nƣớc xã hội chủ nghĩa, hủy bỏ kế hoạch “quốc hữu hóa” và gạt lực lƣợng tiến bộ ra khỏi chính phủ. Trong thời gian thực hiện kế 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch Marshall từ 4-1958 đến 12-1951, Mỹ đã chi 12,5 tỉ đôla. Kế hoạch này đã giúp các nƣớc tƣ bản Tây Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và phát triển nhanh chóng trong những năm 50, 60. Nhƣng mặt khác, kế hoạch Marshall đã giúp Mỹ xâm nhập về kinh tế, tiến tới can thiệp về chính trị, quân sự đối với các nƣớc Tây Âu.

Trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, từ tháng 7 - 1947, Liên Xô tiến hành kí kết các hiệp ƣớc liên minh kinh tế với các nƣớc Đông Âu, chuẩn bị cho việc thành lập một tổ chức kinh tế chung. Ngày 8-1-1949, hội nghị kinh tế gồm đại diện các nƣớc Liên Xô, Anbani, Ba Lan, Bungari, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc quyết định thành lập Hội đồng tƣơng trợ kinh tế (SEV), một tổ chức liên minh kinh tế của các nƣớc xã hội chủ nghĩa. Nhƣ vậy, trên thế giới đã hình thành hai khối kinh tế đối lập nhau và đi kèm theo đó là hai khu vực thị trƣờng riêng rẽ. Thêm vào đó, tháng 4 - 1949, tại Washington, 12 nƣớc Tây Âu và Bắc Mĩ quyết định thành lập Tổ chức Hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng (NATO).

Mặc dù nội dung bản Hiệp ƣớc nói về mục đích “bảo vệ hoà bình” nhƣng thực chất đây là một khối quân sự phục vụ cho lợi ích của chủ nghĩa đế quốc, chĩa mũi nhọn vào Liên Xô, các nƣớc xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Năm 1955, Mĩ đƣa Tây Đức vào khối NATO, làm cho tình hình thế giới thêm căng thẳng, nền hòa bình của các nƣớc châu Âu bị đe dọa. Trong bối cảnh đó, tháng 5 – 1955, Liên Xô và các nƣớc Đông Âu thành lập Tổ chức Hiệp ƣớc Vacsava nhằm bảo vệ an ninh của các nƣớc thành viên, duy trì hoà bình ở châu Âu, trở thành một đối trọng với NATO. Nhƣ vậy, sau khi chiến tranh kết thúc chƣa đầy một thập niên, ở châu Âu hình thành hai khối quân sự đối đầu ráo riết chạy đua vũ trang.

Cuộc “chiến tranh lạnh” giữa hai cực Xô - Mĩ, sự đối đầu giữa hai khối Đông - Tây ngày càng trở nên gay gắt. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh việc tranh giành phạm vi ảnh hƣởng và vai trò lãnh đạo thế giới của các nƣớc lớn, sự đối đầu giữa hai phe tƣ bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa còn có cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lƣợc, hiếu chiến với nhân dân các nƣớc, các dân tộc bị áp bức. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh trở thành trào lƣu cách mạng rộng lớn, sôi sục, làm cho hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc bị tan vỡ từng mảng. Thắng lợi của Liên Xô và các lực lƣợng Đồng minh trong các cuộc chiến tranh chống phát xít đã cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh bƣớc vào một thời kì phát triển mới.

Nhiều nƣớc đã giành đƣợc thắng lợi và tuyên bố nền độc lập của mình. Đặc biệt, ngày 1-10- 1949, cách mạng dân tộc dân chủ Trung Hoa thắng lợi, nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập. Với diện tích bằng ¼ châu Á và chiếm ¼ dân số toàn thế giới, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã phá vỡ một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc… Phong trào giải phóng dân tộc ở các nƣớc Á, Phi, Mĩ Latinh dẫn đến sự hình thành các quốc gia độc lập từng bƣớc làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, làm rạn nứt những quy định của “trật tự hai cực Yalta” và đƣa các nƣớc Á, Phi, Mĩ Latinh bƣớc lên vũ đài quốc tế, góp phần giải quyết những công việc trọng đại của cục diện thế giới. Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1959 1.

Ý đồ chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam. Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, là nƣớc có vị trí chiến lƣợc quan trọng, có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Chính vì vậy, khi chủ nghĩa tƣ bản phát triển khao khát tìm kiếm thị trƣờng thì Việt Nam nhanh chóng đƣợc chú ý đến. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù cách xa nửa vòng trái đất, bị ngăn trở bởi Thái Bình Dƣơng song Mỹ đã chú ý đến Việt Nam từ rất lâu.

“Năm 1819, nhiều chiến thuyền Mỹ đã đến Việt Nam, dò dẫm luồng lạch trên sông Đồng Nai và tìm đƣờng đến Sài Gòn. Năm 1832, Mỹ lại cho thuyền vào vùng biển Việt Nam, thả neo ngoài khơi Phú Yên, Vũng Tàu. Năm 1836, chiến thuyền Mỹ lại có mặt ở Sơn Trà (Đà Nẵng)” [49, tr. Tuy nhiên, thời gian này Mỹ chƣa có điều kiện để tiến hành những hoạt động xâm lƣợc Việt Nam vì vẫn chỉ là một đế quốc khu vực trong khi Việt Nam lại ở xa.

Đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, Mỹ trở thành một trong những cƣờng quốc tƣ bản thế giới. Bằng cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898, Mỹ chiếm đƣợc Philippin – một thuộc địa lớn của Tây Ban Nha, từ đây Mỹ chú ý hơn đến Việt Nam, nhƣng nơi này thuộc sự cai trị của thực dân Pháp. Cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ chƣa có điều kiện để đặt chân vào Việt Nam, nhƣng Mỹ đã có nhiều hành động thể hiện sự quan tâm “đặc biệt”: nhƣ khi Pháp thua Nhật và Nhật sắp đầu hàng, chính quyền Mỹ đã dự định đặt Đông Dƣơng dƣới chế độ “ủy trị quốc tế” trực thuộc Mỹ và Tƣởng để thay thế cho chế độ bảo hộ của thực dân Pháp, nhƣng không thực hiện đƣợc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ