chương 1) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích 13 lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Khoản 1 (Điều 13, chương 2) của Luật Du lịch Việt Nam 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch. Để hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, các sản phẩm du lịch cần phải đa dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ. Chính sự phong phú và đa dạng, đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của sản phẩm du lịch. Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch, là điều kiện cần thiết để thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng.
Tài nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc và có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch càng cao. Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 1. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của 14 khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch (có thể là của một cơ sở du lịch, có thể là của một khu du lịch). Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng lao động xã hội là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng nên mà là của toàn xã hội. Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng. Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã hội, nhân tố phục vụ đắc lực nhất và có tầm quan trọng nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải (đường không, đường bộ, đường thủy). Đây chính là cơ sở vật chất kỹ thuật bậc hai đối với du lịch.
Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương và sau nữa là phục vụ cả khách du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch. Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch. Đội ngũ lao động Đây là tác nhân quan trọng sử dụng các công cụ cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch để khai thác các tài nguyên du lịch, mang đến cho khách du lịch quốc tế các sản phẩm du lịch và dịch vụ tốt nhất. Lao động trong du lịch phần lớn là lao động kỹ thuật, đòi hỏi có sự chuẩn bị nghiệp vụ cao.
Sự chuyên môn hóa thể hiện rõ rệt nhất ở các cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống, du lịch. So với lao động trong các ngành khác thì lao động trong ngành du lịch có cường độ 15 thấp hơn, nhưng lại ở trong môi trường lao động phức tạp và phải chịu đựng tâm lý cao. Đặc điểm này thể hiện rõ nét đối với những người lao động có quan hệ trực tiếp với khách như: phục vụ buồng, bàn, bar, hướng dẫn viên du lịch, họ phải tiếp xúc với nhiều loại đối tượng khách du lịch mà khách lại có những đặc điểm tâm lý xã hội rất khác nhau. Vậy nên đội ngũ lao động có trình độ, có chuyên môn nghiệp vụ chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là đội ngũ ấy phải có tinh thần phục vụ tốt, làm việc hết sức chuyên nghiệp để tạo cảm giác thân thiện và thoải mái cho khách du lịch.
Đội ngũ lao động hội đủ hai điều kiện trên chắc chắn sẽ là một tác nhân quan trọng để giúp thu hút khách du lịch quốc tế. Chính sách phát triển du lịch Các chính sách phát triển du lịch hợp lý sẽ đảm bảo phát huy được khả năng du lịch của quốc gia và địa phương. Đặc biệt các quy định và chính sách đa dạng hóa về tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế của nhà nước và cơ quan thẩm quyền địa phương luôn có tác động trực tiếp đáng kể đến việc thu hút này. Do vậy các chính sách và các quy định này phải được xây dựng và triển khai hợp lý để đảm bảo sự phù hợp giữa chính sách và khả năng thực hiện trên thực tế.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch quốc tế, tiềm năng du lịch sẽ không thể khai thác hiệu quả nếu công tác quy hoạch và tổ chức du lịch thiếu đồng bộ và không khoa học. Công tác quy hoạch và quản lý chuyên nghiệp sẽ cho phép du lịch phát triển theo đúng định hướng và giúp tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế. Môi trường du lịch Môi trường du lịch bao gồm môi trường du lịch tự nhiên và môi trường du lịch nhân văn. Bất kỳ hoạt động du lịch nào cũng chỉ diễn ra trong phạm vi môi trường du lịch.
Hay nói cách khác, hễ ở đâu có du lịch thì ở đó có môi trường du lịch. Trong khi môi trường tự nhiên đòi hỏi việc khai thác các tài 16 nguyên thiên nhiên phải gắn liền với việc tôn tạo và giữ gìn môi trường, thì môi trường du lịch nhân văn đòi hỏi là du lịch mà ở đó không có nạn chèo kéo khách, không có tình trạng xô xát tranh giành khách, thay vào đó là sự tiếp đón ân cần và thân thiện của người dân địa phương. Vấn đề bảo đảm an toàn cho khách du lịch quốc tế là một vấn đề cần được quan tâm nhất. Đây là một trở ngại lớn nếu du lịch thực sự không được chuyên nghiệp hóa và khó đảm bảo thực hiện được ở những vùng có trình độ dân trí thấp, đời sống nhân dân còn khó khăn.
Bên cạnh đó, khách du lịch quốc tế khi lựa chọn một nơi để đi du lịch, họ không chỉ xem xét đến các sản phẩm du lịch mà còn coi trọng yếu tố bảo vệ sự an toàn thân thể, tài sản, quan tâm đến tình hình an ninh chính trị của quốc gia đó. Cho nên vấn đề về chính trị, hòa bình, an ninh xã hội phải được đảm bảo. Đối với những vùng, quốc gia nơi có tình hình chính trị không ổn định như nội chiến, mâu thuẫn sắc tộc, đảo chính thì chắc chắn sẽ không thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế. Cơ sở lý luận xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút khách du lịch quốc tế đã được đề cập ở một số nghiên cứu trước đây, chẳng hạn Zidehsaraei, Maryam và Minoo Zidehsaraei (2015)[12, tr.
Theo đó, các yếu tố như điều kiện tự nhiên (nature), văn hóa (culture), di tích lịch sử (historycal monuments), địa điểm vui chơi giải trí (Recreational places), công nghệ tiên tiến (advanced technology), phương tiện nghe nhìn và truyền thông đại chúng (visual media, mass communication), trong đó phương tiện nghe nhìn và truyền thông đại chúng là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất. Trong nghiên cứu của Payroun và Broumand (2014)[13, tr.28-37] sử dụng biểu đồ cột (column diagram) và phân tích các nhân tố (factor analysis) chỉ ra rằng yếu tố an ninh/an toàn, sự công khai (publicity), luật pháp (laws) và các quy định (regulation), hạ tầng 17 du lịch là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch quốc tế của Iran. Nghiên cứu của Aghdaei và cộng sự (2014)[14, tr. 271-289] sử dụng phương pháp hồi quy đa biến (regression) và điều tra (descriptive survey) chỉ ra rằng thương hiệu của điểm đến (destination brand), chất lượng của trang thiết bị (facilities) và các dịch vụ của khách sạn (hospitality servies), chi phí du lịch (tourism cost),.
là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch quốc tế.27-38] sử dụng phân tích hồi quy đa biến (multiple regression analysis) và số liệu của 300 khách du lịch đã viếng thăm Ethiopia và kết luận rằng hạ tầng của sân bay (airport dimensions), tiện nghi khách sạn (hotel facilities), các dịch vụ cung cấp (services experiences dimensions) là những yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế. Đối với trường hợp của Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào sự phát triển cơ sở lưu trú du lịch của Việt Nam (Vietnam’s tourism accommodation) chẳng hạn như Suntikul và cộng sự (2016) hay đo lường hiệu quả của các hoạt động quảng bá về điểm đến du lịch, chẳng hạn của Lai và Nguyễn (2013)[17, tr. 1-22], các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại của khách du lịch và sự thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch (the factors affecting tourists’ return intention and satisfaction) chẳng hạn các nghiên cứu của Mai Ngọc Khương và các cộng sự (2013, 2014, 2015)[18,tr. Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà (2015) và Đỗ Ngọc Quyên (2013) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng các yếu tố như số lượng buồng phòng (the number of room for rent), số lượng di sản văn hóa (heritage sites), sự nới nỏng/bãi bỏ VISA là những yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh.