Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005-2009, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân khoảng 6,8% đến 7,2%/năm, tạo động lực mạnh mẽ cho nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng và xây dựng công nghiệp. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, các doanh nghiệp nhà nước trong ngành cơ khí xây lắp phải đối mặt với áp lực cạnh tranh khốc liệt từ các tập đoàn đa quốc gia và khối doanh nghiệp tư nhân. Tổng công ty Cơ khí Xây dựng với mạng lưới gồm hơn 20 đơn vị thành viên đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tái định hình mô hình tăng trưởng, tối ưu hóa năng lực cạnh tranh và khắc phục những bất cập trong quản trị điều hành.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá toàn diện kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh giai đoạn 2005-2009, phân tích các biến số từ môi trường vĩ mô và nội bộ, từ đó hoạch định hệ thống chiến lược phát triển khả thi cho Tổng công ty Cơ khí Xây dựng trong giai đoạn 2010-2015. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi gồm sản xuất cơ khí, xây lắp công trình, đầu tư dự án và dịch vụ kỹ thuật đào tạo tại các đơn vị thành viên trải dài trên địa bàn cả nước và chi nhánh quốc tế tại Lào.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu thể hiện qua việc thiết lập lộ trình tăng trưởng doanh thu kỳ vọng đạt 12% đến 15%/năm, nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu lên trên mức 10%, đồng thời chuyển đổi mô hình cạnh tranh từ đấu thầu theo giá thấp sang đấu thầu dựa trên năng lực công nghệ và chất lượng kỹ thuật cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại của Alfred Chandler, James Brian Quinn cùng các tác giả Gerry Johnson và Kevan Scholes, tiếp cận chiến lược theo ba giai đoạn liên hoàn gồm hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá chiến lược. Hệ thống lý luận phân định rõ ba cấp độ quản trị chiến lược cơ bản: chiến lược cấp doanh nghiệp nhằm xác định định hướng tổng thể, chiến lược cấp đơn vị kinh doanh chiến lược tập trung vào cách thức tạo lập lợi thế cạnh tranh trên từng phân khúc thị trường, và chiến lược cấp chức năng hỗ trợ việc phân bổ nguồn lực vận hành tối ưu.

Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter được vận dụng để mổ xẻ cấu trúc ngành cơ khí xây dựng thông qua việc đánh giá quyền lực của nhà cung ứng, áp lực từ khách hàng, nguy cơ từ đối thủ gia nhập tiềm năng, sản phẩm thay thế và cường độ cạnh tranh nội bộ ngành. Song song với đó, ba chiến lược cạnh tranh tổng quát gồm dẫn đầu về chi phí, khác biệt hóa sản phẩm và chiến lược tập trung được sử dụng làm cơ sở định vị cho từng đơn vị thành viên. Mô hình ba chiều của Derek Abell tiếp tục hỗ trợ phân đoạn chiến lược theo nhóm khách hàng phục vụ, nhu cầu cần thỏa mãn và công nghệ chế tạo ứng dụng. Các khái niệm trung tâm bao gồm đơn vị kinh doanh chiến lược, phân đoạn thị trường chiến lược, liên kết dọc, đa dạng hóa sản phẩm và chuỗi giá trị doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống báo cáo tài chính đã kiểm toán trong 3 năm liên tiếp 2007-2009, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2005-2009 của toàn bộ các đơn vị trực thuộc Tổng công ty, kết hợp các ấn phẩm thống kê vĩ mô của Tổng cục Thống kê về tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư toàn xã hội và giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2003-2009.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ 20 đơn vị kinh doanh chiến lược trong hệ sinh thái của Tổng công ty Cơ khí Xây dựng theo phương pháp chọn mẫu tổng điều tra toàn diện. Danh mục khảo sát gồm 13 công ty con và công ty cổ phần như Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 2 Hà Bắc, Công ty Cổ phần Lắp máy Điện nước số 3, Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp số 7, Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Thái Bình, Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Sông Chu, Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 18, Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Nam Định, Công ty Cổ phần Xây lắp và Thương mại, Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 26, Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng và Phát triển Cơ khí, Công ty Cổ phần Khóa Minh Khai, Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng và Lắp máy Điện nước, Công ty Cổ phần Xi măng Đồng Bành; 4 đơn vị hạch toán phụ thuộc; 2 đơn vị sự nghiệp và các công ty liên kết.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng, ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ và ma trận vị thế cạnh tranh theo chu kỳ sống ngành là nhằm nhận diện chính xác các điểm mạnh, điểm yếu đặc thù của từng đơn vị cơ sở, đảm bảo việc hoạch định chiến lược không mang tính cào bằng mà bám sát năng lực thực tế của từng phân khúc sản phẩm. Timeline nghiên cứu phân tích chuỗi dữ liệu lịch sử giai đoạn 2005-2009 và xây dựng kịch bản hành động cho chu kỳ 2010-2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả khảo sát cho thấy mức độ hoàn thành chỉ tiêu doanh thu của toàn Tổng công ty trong giai đoạn 2005-2009 đạt khoảng 92% so với kế hoạch đề ra, tuy nhiên có sự phân hóa rất lớn giữa 13 công ty con. Trong khi các đơn vị mũi nhọn như Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 2, Công ty Cổ phần Lắp máy Điện nước số 3 và Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 18 đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân từ 14% đến 18%/năm, thì một số đơn vị như Công ty Cổ phần Khóa Minh Khai và Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng và Lắp máy Điện nước rơi vào tình trạng đình trệ với tỷ lệ khai thác công suất máy móc chỉ đạt dưới 60%.

Thứ hai, tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu toàn hệ thống dao động ở mức thấp, chỉ đạt bình quân từ 3,1% đến 4,2% trong giai đoạn 2007-2009. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hơn 70% các hợp đồng xây lắp và cơ khí chế tạo đạt được thông qua phương thức đấu thầu cạnh tranh về giá, khiến biên độ lợi nhuận bị thu hẹp đáng kể khi giá thép, nguyên liệu đầu vào và chi phí năng lượng biến động tăng trên 15% vào các năm 2008-2009.

Thứ ba, cơ cấu lực lượng lao động bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Lao động trực tiếp chiếm tỷ trọng trên 73% trong tổng số hơn 4.200 cán bộ công nhân viên, nhưng tỷ lệ thợ bậc cao từ bậc 5 trở lên chỉ chiếm khoảng 19,5%. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt cục bộ nhân sự kỹ thuật vận hành máy móc công nghệ cao khi thực hiện các dự án công nghiệp quy mô lớn.

Thứ tư, danh mục sản phẩm chế tạo cơ khí phi tiêu chuẩn phục vụ ngành xi măng và thủy điện chiếm tới 54% tổng giá trị sản lượng cơ khí, khẳng định đây là phân đoạn chiến lược có năng lực cạnh tranh vượt trội của Tổng công ty trên thị trường nội địa.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm biên lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng không đồng đều giữa các đơn vị bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và nguyên nhân chủ quan trong cơ chế điều hành. Mối liên kết ngang giữa các công ty con trong chuỗi cung ứng nội bộ còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng triệt tiêu lợi thế cạnh tranh lẫn nhau khi tham gia đấu thầu tại cùng một khu vực địa lý. So sánh với các doanh nghiệp đầu ngành cùng thời kỳ như Tổng công ty Lắp máy Việt Nam hay Tổng công ty Xây dựng số 1, Tổng công ty Cơ khí Xây dựng sở hữu năng lực gia công chế tạo kết cấu thép rất mạnh nhưng lại hạn chế về năng lực thu xếp vốn tín dụng và kinh nghiệm làm tổng thầu thiết kế, mua sắm và thi công.

Các dữ liệu phân tích hoạt động có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ phân bổ doanh thu theo 4 lĩnh vực kinh doanh chính, trong đó mảng sản xuất cơ khí đóng góp 52%, xây lắp chiếm 29%, đầu tư chiếm 13% và dịch vụ đào tạo chiếm 6%. Đồng thời, việc biểu diễn ma trận vị thế cạnh tranh kết hợp chu kỳ sống ngành cho phép phân loại 20 đơn vị thành viên thành các nhóm chiến lược rõ rệt, từ nhóm cần duy trì đầu tư mở rộng thị phần đến nhóm cần tái cấu trúc hoặc thu hồi vốn để bảo toàn dòng tiền doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Hội đồng Quản trị và Ban Tổng Giám đốc cần thực hiện tái cơ cấu mô hình quản trị, tiến hành sắp xếp đổi mới doanh nghiệp và thoái vốn toàn bộ tại các đơn vị hạch toán kém hiệu quả, hướng tới mục tiêu nâng tốc độ vòng quay vốn lưu động từ 1,2 lần lên 1,8 lần/năm trước năm 2013.

Thứ hai, Phòng Thị trường và Đấu thầu cần chuyển đổi căn bản chiến lược đấu thầu từ ưu thế giá thấp sang đấu thầu dựa trên giải pháp công nghệ vượt trội và uy tín kỹ thuật, phấn đấu nâng tỷ lệ trúng thầu các gói thầu tổng thầu xây lắp công nghiệp lên mức tối thiểu 25% trong giai đoạn 2012-2015.

Thứ ba, Viện Nghiên cứu và Phát triển Cơ khí cùng Khối Kỹ thuật cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ, trích lập từ 5% đến 7% lợi nhuận sau thuế hàng năm để hiện đại hóa dây chuyền gia công cơ khí chính xác, làm chủ 100% công nghệ chế tạo thiết bị cơ khí thủy công và kết cấu phi tiêu chuẩn phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia từ năm 2011 đến 2015.

Thứ tư, Phòng Tổ chức Cán bộ phối hợp với Trường Trung cấp nghề Cơ khí Xây dựng triển khai chương trình đào tạo chuẩn hóa tay nghề cho ít nhất 1.500 lượt công nhân kỹ thuật, đảm bảo 100% thợ hàn áp lực và thợ lắp máy chủ lực đạt chứng chỉ kiểm định chất lượng quốc tế trước năm 2014.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản trị cấp cao và chuyên viên hoạch định chiến lược tại các tổng công ty, tập đoàn xây dựng và cơ khí công nghiệp. Luận văn cung cấp quy trình bài bản để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh cho mô hình công ty mẹ - công ty con đa ngành.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Quản lý Kinh tế. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về việc áp dụng các mô hình chiến lược của Michael Porter và Derek Abell vào bối cảnh doanh nghiệp thực tế tại Việt Nam.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Xây dựng và các ban quản lý vốn đầu tư. Luận văn cung cấp góc nhìn thực tiễn về những rào cản tài chính, công nghệ và lao động trong tiến trình cổ phần hóa, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước.

Nhóm thứ tư là các giám đốc dự án và kỹ sư trưởng ngành cơ khí xây lắp. Tài liệu mang lại kinh nghiệm thực tế trong việc phân bổ máy móc, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị và xây dựng chiến lược tham gia đấu thầu các dự án quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình lý thuyết nào đóng vai trò cốt lõi trong việc định vị chiến lược của Tổng công ty Cơ khí Xây dựng? Luận văn kết hợp mô hình năm lực lượng cạnh tranh và ba chiến lược cạnh tranh cơ bản của Michael Porter cùng mô hình ba chiều của Derek Abell. Khung lý thuyết này giúp phân loại chính xác 20 đơn vị thành viên theo từng phân đoạn thị trường, công nghệ ứng dụng và nhóm khách hàng mục tiêu để xác lập lợi thế cạnh tranh riêng biệt.

Tại sao Tổng công ty cần chuyển dịch từ đấu thầu theo giá sang đấu thầu bằng ưu thế kỹ thuật? Thực tế giai đoạn 2005-2009 cho thấy đấu thầu theo giá thấp khiến biên lợi nhuận ròng của Tổng công ty chỉ đạt khoảng 3,1% đến 4,2%, chịu rủi ro rất lớn khi giá sắt thép và nhiên liệu leo thang. Chuyển sang đấu thầu bằng công nghệ cao giúp gia tăng tỷ suất sinh lời lên trên 8% và khẳng định uy tín thương hiệu.

Những đơn vị thành viên nào giữ vai trò hạt nhân tăng trưởng của Tổng công ty giai đoạn 2010-2015? Các đơn vị chủ lực bao gồm Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 2, Công ty Cổ phần Lắp máy Điện nước số 3 và Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 18. Đây là những đơn vị sở hữu năng lực thiết bị đồng bộ, tỷ lệ khai thác công suất trên 80% và có thị phần vững chắc trong mảng cơ khí thủy điện, xi măng.

Luận văn đưa ra giải pháp nào để tháo gỡ điểm nghẽn về năng suất lao động? Nghiên cứu đề xuất liên kết chặt chẽ hoạt động sản xuất với Trường Trung cấp nghề Cơ khí Xây dựng để đào tạo lại hơn 1.500 công nhân kỹ thuật. Giải pháp tập trung nâng tỷ lệ thợ bậc cao từ 19,5% lên mức trên 35%, đồng thời gắn cơ chế tiền lương với năng suất thực tế tại công trường.

Tính thực tiễn nổi bật nhất của luận văn đối với các doanh nghiệp cơ khí xây lắp là gì? Điểm sáng của luận văn là việc thiết lập ma trận đề xuất chiến lược chi tiết cho từng công ty con thay vì áp dụng một công thức chung. Cách tiếp cận này giúp từng đơn vị tự chủ nhận diện thế mạnh, tối ưu hóa nguồn lực sẵn có và hòa nhập vào chiến lược phát triển chung của toàn hệ thống.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản trị chiến lược đa cấp độ, tích hợp các mô hình phân tích kinh điển vào đặc thù ngành cơ khí xây dựng Việt Nam.
  • Đánh giá khách quan bức tranh hoạt động của Tổng công ty Cơ khí Xây dựng giai đoạn 2005-2009 với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch đạt 92% nhưng biên lợi nhuận ròng còn khiêm tốn.
  • Phân tích chi tiết thực trạng năng lực nội bộ của 20 đơn vị kinh doanh chiến lược, chỉ rõ những bất cập về máy móc thiết bị và cơ cấu tay nghề lao động.
  • Xác lập mục tiêu chiến lược giai đoạn 2010-2015 với tốc độ tăng trưởng doanh thu 12% đến 15%/năm và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đạt trên 10%.
  • Hoàn thiện 12 nhóm giải pháp đồng bộ về sắp xếp doanh nghiệp, tài chính, đổi mới công nghệ, phát triển thị trường và chuẩn hóa nguồn nhân lực.

Đóng góp quan trọng nhất của công trình là cung cấp một bản kế hoạch hành động mang tính ứng dụng cao, giúp giải quyết bài toán cân bằng giữa quy mô tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh. Lộ trình triển khai phân kỳ cụ thể cho từng năm từ 2010 đến 2015 mở ra bước chuyển mình quan trọng để Tổng công ty Cơ khí Xây dựng phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập. Các cấp quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác sâu các phân tích định lượng trong luận văn để vận dụng hiệu quả vào công tác tái cấu trúc doanh nghiệp hiện nay.